Quyết định đưa thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với các mặt hàng xăng dầu về mức 0% đến hết tháng 4/2026, đang được đánh giá là một bước đi quyết đoán và linh hoạt.
Báo VTV ngày 23/3/2026 đăng tin: “Giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%: Cú hích tài khóa hạ nhiệt thị trường”, nội dung cụ thể cho biết:
Phản ứng nhanh trước biến động nguồn cung toàn cầu
Theo ghi nhận từ Bộ Công thương, thị trường năng lượng quốc tế đầu năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro gián đoạn nguồn cung. Tại thị trường trong nước, mặc dù hai nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn và Dung Quất đã nỗ lực vận hành tối đa công suất, nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu. 30% lượng xăng dầu còn lại vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu.

Trước tình hình đó, Nghị định số 72/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 9/3/2026 đã tạo ra một hành lang thuế quan thông thoáng chưa từng có. Cụ thể, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng không chì và các loại dầu diesel, nhiên liệu bay, kerosine đều được kéo giảm từ mức 7-10% xuống còn 0%.

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP, quyết định đưa thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với các mặt hàng xăng dầu về mức 0% đến hết tháng 4/2026, đang được đánh giá là một bước đi quyết đoán và linh hoạt. Trong bối cảnh giá năng lượng thế giới biến động khó lường do các xung đột địa chính trị, giải pháp này không chỉ giúp giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp mà còn góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô.
Đánh giá về động thái này, chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng đây là một quyết định tài khóa mạnh mẽ về thông điệp chính sách. “Điểm đáng giá nhất của biện pháp này là giúp mở rộng không gian nhập khẩu cho doanh nghiệp đầu mối. Việc giảm thuế về 0% giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong lựa chọn nguồn hàng, không bị bó hẹp vào một vài thị trường có hiệp định thương mại tự do (FTA) như trước đây”, ông Long nhận định.
Giảm áp lực “vết dầu loang” lên giá thành sản xuất
Thực tế, xăng dầu là mặt hàng đầu vào thiết yếu của hầu hết các ngành sản xuất, đặc biệt là vận tải và logistics. Khi giá xăng dầu tăng, áp lực lạm phát sẽ nhanh chóng lan tỏa theo hiệu ứng “vết dầu loang”, đẩy giá hàng hóa tiêu dùng lên cao.
Đứng ở góc độ cơ quan quản lý, đại diện Bộ Tài chính cho biết, việc chấp nhận giảm thu ngân sách ngắn hạn từ thuế nhập khẩu là một sự “đánh đổi có tính toán”. Nếu không can thiệp bằng công cụ thuế, chi phí nhiên liệu dội thẳng vào giá thành sản xuất sẽ gây hệ lụy lớn hơn nhiều cho nền kinh tế, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, chính sách này mang lại sự giải tỏa đáng kể về tâm lý và dòng tiền. Ông Trần Thành Phát, chủ một doanh nghiệp vận tải chia sẻ: “Dù mức giảm thuế chỉ tác động trực tiếp lên phần hàng nhập khẩu, nhưng nó giúp kìm hãm đà tăng giá bán lẻ. Điều này cực kỳ quan trọng để chúng tôi lập kế hoạch giá thành và ký kết các hợp đồng vận chuyển dài hạn mà không lo sợ rủi ro sốc giá nhiên liệu”.

Việc sử dụng linh hoạt Quỹ Bình ổn giá (BOG) cần được xem xét như một công cụ cốt lõi để “làm mềm” các cú sốc giá ngắn hạn.
Về phía người tiêu dùng, sự quan tâm lớn nhất vẫn là giá niêm yết tại các cột bơm xăng. Chị Nguyễn Thị Thu Giang (Hà Nội) cho biết: “Mỗi lần giá xăng tăng là giá rau củ, thực phẩm tại chợ cũng rục rịch tăng theo. Tôi hy vọng việc giảm thuế này sẽ giúp giá xăng ổn định hơn, từ đó giữ cho chi tiêu gia đình không bị xáo trộn quá lớn trong những tháng tới”.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý người dân không nên kỳ vọng vào một đợt giảm giá sâu ngay lập tức. Ông Long phân tích, tác động thực chất của việc giảm thuế trước hết nằm ở chỗ hạn chế đà tăng giá hơn là tạo ra cú giảm giá lớn. Khi chi phí nhập khẩu biên giảm xuống, cơ quan điều hành sẽ có thêm dư địa để giữ nguyên giá bán lẻ hoặc giảm mức tăng trong trường hợp giá dầu thế giới tiếp tục leo thang.
Cần gói giải pháp đồng bộ để thị trường xăng dầu bền vững
Dù đánh giá cao vai trò của công cụ thuế trong việc điều tiết thị trường, ông Long nhấn mạnh rằng, chính sách tài khóa không nên được kỳ vọng là “chiếc đũa thần” duy nhất. Để thị trường năng lượng vận hành ổn định và bền vững, cơ quan quản lý cần thực hiện phối hợp nhịp nhàng một hệ thống giải pháp đồng bộ, từ điều hành giá đến đảm bảo chuỗi cung ứng.
Trước hết, việc sử dụng linh hoạt Quỹ Bình ổn giá (BOG) cần được xem xét như một công cụ cốt lõi để “làm mềm” các cú sốc giá ngắn hạn. Trong bối cảnh địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, Quỹ BOG đóng vai trò là vùng đệm quan trọng, giúp giá xăng dầu trong nước không biến động quá đột ngột theo đà tăng giảm của thị trường quốc tế, từ đó giảm áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Song song với điều tiết giá, nhiệm vụ đảm bảo an ninh nguồn cung mang tính chất sống còn. Bộ Công thương cần tăng cường giám sát việc thực hiện tổng nguồn tối thiểu của các thương nhân đầu mối xăng dầu. Thực tế cho thấy, nếu chỉ tập trung ổn định giá mà để xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa cục bộ, thị trường sẽ rơi vào trạng thái bất ổn tâm lý, gây hệ lụy dây chuyền đến các hoạt động sản xuất và vận tải.
Một yếu tố không thể thiếu trong gói giải pháp này là sự minh bạch hóa các thành phần cấu thành giá cơ sở. Việc công khai chi tiết các yếu tố như giá thành phẩm thế giới, chi phí định mức và các loại thuế phí không chỉ giúp doanh nghiệp, người dân hiểu rõ bản chất vận động của giá cả mà còn triệt tiêu dư địa cho các hành vi đầu cơ, găm hàng. Khi sự minh bạch được nâng cao, niềm tin của thị trường sẽ được củng cố mạnh mẽ hơn.
Nghị định số 72/2026/NĐ-CP của Chính phủ về điều chỉnh thuế suất xăng dầu có hiệu lực đến hết ngày 30/4/2026 là một minh chứng cho sự điều hành linh hoạt, mang tính thời điểm để ứng phó với các biến động ngắn hạn. Tuy nhiên, về tầm nhìn dài hạn, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần ưu tiên nâng cao năng lực dự trữ chiến lược quốc gia. Việc đa dạng hóa nguồn cung dầu thô cho các nhà máy lọc dầu nội địa như Bình Sơn hay Nghi Sơn mới thực sự là chìa khóa để tăng sức chống chịu cho nền kinh tế trước những “sang chấn” năng lượng toàn cầu.
Sự quyết liệt trong điều hành giá xăng dầu thời gian qua khẳng định nhất quán quan điểm của Chính phủ: đặt mục tiêu ổn định đời sống nhân dân và hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp lên hàng đầu. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành cùng sự ủng hộ của cộng đồng, thị trường năng lượng kỳ vọng sẽ giữ vững nhịp ổn định, tạo đà bứt phá cho các ngành kinh tế trọng điểm trong năm 2026.
Trước đó, tạp chsi Znews đưa tin: “Chính thức giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0%”, nội dung cho biết theo Nghị định 72/2026, thuế nhập khẩu ưu đãi sẽ giảm xuống 0% với một số mặt hàng xăng dầu để tăng nguồn cung và ổn định thị trường.
Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định 72/2026 sửa đổi thuế suất nhập khẩu ưu đãi (MFN) với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào. Trong đó, MFN là mức thuế chỉ áp dụng cho các nước trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Cụ thể, thuế suất MFN đã giảm từ 10% xuống 0% đối với xăng động cơ không pha chì (các mã HS 2710.12.21; 2710.12.22; 2710.12.24; 2710.12.25) và các nguyên liệu pha chế xăng như naphtha, reformate (mã HS 2710.12.80).
Thuế suất nhập khẩu ưu đãi cũng hạ từ 7% xuống 0% đối với các mặt hàng nhiên liệu diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu máy bay và kerosine. Ngoài ra, một số nguyên liệu hóa dầu như xylen, condensate, P-xylen sẽ được giảm thuế từ 3% xuống 0%, còn hydrocarbon mạch vòng loại khác giảm từ 2% xuống 0%.
Nghị định có hiệu lực từ ngày ký đến hết 30/4. Trường hợp cần kéo dài, Bộ Công Thương sẽ đề xuất để Bộ Tài chính trình Chính phủ.
Theo hồ sơ gửi Bộ Tư pháp để thẩm định trước đó, Bộ Tài chính cho biết thực tiễn hiện nay, chiến tranh Mỹ, Israel và Iran đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam và thế giới.
Cụ thể, eo biển Hormuz hiện bị Iran phong tỏa khiến cho khoảng 20 triệu thùng dầu thô mỗi ngày từ nguồn dầu thô tại các nước Trung Đông như Iran, Iraq, UAE, Saudi Arabia, Kuwait… không thể đi qua eo biển này đến các nhà máy lọc dầu trên thế giới, đặc biệt đối với khu vực châu Á – nơi phụ thuộc nhiều vào nguồn dầu thô Trung Đông.
Hậu quả là các nhà máy lọc dầu khu vực châu Á đã phải cắt giảm công suất, mở kho dự trữ dầu thô, hạn chế, dừng xuất khẩu sản phẩm xăng dầu. Nguồn sản phẩm khan hiếm khiến cho giá xăng dầu tại thị trường Singapore bị đẩy lên rất cao (cả giá Mops và Pre) nguy cơ thiếu hụt nguồn cung.
Tương tự trường hợp của các nhà máy lọc dầu khu vực châu Á, một số nhà máy lọc dầu trong nước cũng gặp khó khăn khi nguồn cung dầu thô từ nước ngoài có nguy cơ thiếu hụt dẫn đến việc khó có thể thực hiện được hợp đồng giao hàng hiện hữu.
Các nhà cung cấp trong khu vực cũng đang xem xét tuyên bố bất khả kháng nếu tình trạng trên kéo dài khiến các nhà máy lọc dầu không có đủ nguồn dầu thô chạy ra sản phẩm.
Hiện nguồn xăng dầu nhập khẩu vào Việt Nam hầu hết nhập từ ASEAN và Hàn Quốc với mức thuế suất chủ yếu là 0% theo các cam kết FTA. Tuy nhiên, trước bối cảnh chung của cả thế giới thì việc mua xăng dầu thành phẩm của khu vực và Hàn Quốc cũng sẽ gặp khó khăn.
Nếu tiếp tục duy trì tình trạng trên, chiến tranh và phong tỏa eo biển Hormuz diễn ra kéo dài, trong khi nhập khẩu thay thế, bổ sung vừa khan hiếm vừa bị đội giá kép, thậm chí có thể không có hàng để mua nhập khẩu, nguồn cung trong nước gặp khó khăn sẽ dẫn đến bất lợi cho Việt Nam trên cả hai phương diện đảm bảo nguồn cung xăng dầu và bình ổn giá cả.
Bộ Tài chính tính toán theo kim ngạch nhập khẩu năm 2025, việc áp mức thuế mới sẽ khiến ngân sách giảm thu khoảng 1.024 tỷ đồng.
Nước giặt quốc dân không cần nước xả vẫn thơm, hơn 1,2 triệu người dùng Shopee cho 5 sao!

Để lại một bình luận