năm 11 tuổi, tôi đã quả quyết với cả nhà rằng sau này nhất định sẽ lấy cô bé hàng xóm mới tuổi làm vợ. A
i cũng nghĩ đó chỉ là lời nói vu vơ của trẻ con, nhưng chẳng ai ngờ mười l5ăm năm sau, một cuộc gặp gỡ bất ngờ lại khiến trái tim tôi rung động như thuở ban đầu…
Tôi vẫn còn nhTừ ớ rất rõ mùa hè năm ấy, khi mình vừa tròn mười một tuổi.
Gia đình đối diện chuyển đến một ngôi nhà mới. Đi cùng họ là một cô bé nhỏ xíu tên Ngọc, kém tôi đúng sáu tuổi. Con bé có làn da trắng, đôi mắt đen láy và mái tóc buộc hai chùm lúc nào cũng lắc lư theo từng bước chạy. Mỗi lần cười, hai lúm đồng tiền hiện lên khiến ai nhìn cũng thấy đáng yêu.
Lần đầu gặp, Ngọc ôm khư khư một chú thỏ bông, rụt rè nép phía sau bố. Không hiểu vì sao, tôi cứ đứng nhìn mãi, trong lòng bỗng dâng lên một cảm giác rất lạ.
– Con nói thật đấy. Em ấy dễ thương nhất con từng gặp.
Mẹ chỉ xoa đầu tôi rồi lắc đầu cười, nghĩ rằng vài hôm nữa tôi sẽ quên.
Nhưng tôi không quên.
Kể từ ngày ấy, cứ có thời gian rảnh là tôi lại chạy sang nhà hàng xóm. Hôm thì giúp chú hàng xóm sửa chiếc xe đạp cũ, hôm thì chỉ Ngọc tập đọc, tập viết. Cô bé lúc nào cũng lon ton đi phía sau, miệng ríu rít gọi tên tôi.
Tôi thường trêu:
Khám phá thêm
Tài nguyên & Dịch vụ viết Blog
Gia đình
Sơn & Hoàn chỉnh Ngôi nhà
– Sau này em làm vợ anh nhé!
Ngọc đỏ bừng mặt, ôm con thỏ bông chạy một mạch vào nhà, để lại tiếng cười khanh khách phía sau.
Năm tháng trôi qua rất nhanh.
Tôi lên cấp ba rồi đỗ đại học ở thành phố. Sau khi ra trường, công việc cuốn tôi đi hết dự án này đến dự án khác. Những lần về quê ngày một thưa dần.
Ngọc cũng lớn lên. Từ cô bé hay bám theo tôi ngày nào, em trở thành một thiếu nữ hiền lành, học giỏi và được rất nhiều người quý mến.
Dù vẫn giữ liên lạc qua vài tin nhắn hay những lời hỏi thăm mỗi dịp lễ Tết, nhưng cuộc sống của cả hai dần có những lối đi riêng. Có những lúc tôi tự cười chính mình, nghĩ rằng câu nói năm mười một tuổi chỉ là một ký ức đẹp của tuổi thơ.
Cho đến một ngày.
Mười lăm năm sau, tôi trở về quê để dự lễ tốt nghiệp đại học của Ngọc theo lời mời của gia đình.
Giữa sân trường đông nghịt người, tôi nhìn thấy em trong tà áo dài màu kem, mái tóc dài buông nhẹ trên vai. Gương mặt ngày nào vẫn vậy, chỉ khác là đã trưởng thành và dịu dàng hơn rất nhiều.
Tôi đứng lặng vài giây.
Khám phá thêm
Tiệc cưới
gia đình
Real Estate
Bó hoa cúc họa mi trên tay bỗng trở nên nặng trĩu.
Đúng lúc định bước tới chúc mừng, tôi bỗng khựng lại.
Bên cạnh Ngọc là một chàng trai cao ráo đang ôm bó hoa lớn, cả hai còn cười nói rất vui vẻ.
Tim tôi như chùng xuống.
Tôi tự nhủ có lẽ mình đã về quá muộn.
Tôi lặng lẽ quay người định rời đi thì bất ngờ nghe thấy phía sau có tiếng gọi lớn:
– Anh Nam!
Tôi quay lại.
Ngọc đang chạy về phía mình.
Em mỉm cười rạng rỡ:
– Cuối cùng anh cũng về rồi.
Tôi gượng cười đưa bó hoa:
– Chúc mừng em tốt nghiệp.
Ngọc nhận lấy rồi bất ngờ hỏi:
– Sao nãy anh định đi vậy?
Tôi nhìn sang chàng trai lúc nãy rồi cười buồn:
– Anh tưởng… em có bạn trai rồi.
Ngọc bật cười.
– Anh ấy là anh họ em. Hôm nay đến chụp ảnh cùng gia đình thôi.
Tôi ngẩn người.
Không khí bỗng im lặng vài giây.
Ngọc nhìn tôi, đôi mắt ánh lên vẻ tinh nghịch như hồi còn bé.
– Hồi nhỏ có người cứ suốt ngày bảo em là “vợ tương lai”. Không biết bây giờ người đó còn nhớ không?
Tôi bật cười.
– Anh tưởng chỉ mình anh nhớ.
Ngọc cúi đầu khẽ đáp:
– Em nhớ chứ. Em nhớ từ rất lâu rồi.
Câu nói ấy khiến mọi khoảng cách của mười lăm năm dường như tan biến.
Sau buổi lễ, chúng tôi cùng đi bộ quanh con đường làng cũ, nhắc lại từng kỷ niệm thời thơ ấu. Những câu chuyện tưởng như đã bị thời gian phủ bụi lại trở nên gần gũi đến lạ.
Từ hôm đó, tôi quyết định xin chuyển công việc về gần quê hơn. Chúng tôi có nhiều thời gian gặp gỡ, cùng nhau tìm hiểu lại từ đầu, không còn là lời hứa ngây ngô của hai đứa trẻ mà là sự lựa chọn của hai người trưởng thành.
Hai năm sau, đúng vào ngày đầu hè – thời điểm hai gia đình gặp nhau lần đầu tiên năm xưa – tôi quỳ xuống trước mặt Ngọc dưới gốc cây xoài trước sân nhà, trao cho em chiếc nhẫn đã chuẩn bị từ nhiều tháng trước.
Ngọc vừa khóc vừa gật đầu.
Mẹ tôi đứng phía sau cười không ngớt rồi quay sang trêu:
– Hóa ra cái thằng nhóc ngày nào nói sẽ cưới cô bé hàng xóm… cuối cùng cũng làm được thật.
Tôi nắm chặt tay Ngọc, mỉm cười.
Có những lời hứa trẻ con tưởng như vô nghĩa, nhưng nếu đủ chân thành và cả hai cùng gìn giữ, thời gian sẽ biến chúng thành hiện thực.
Mười lăm năm chờ đợi, đổi lại là cả một quãng đời hạnh phúc ở phía trước.
Sống ở nhà con rể 15 năm, đến khi căn nhà ở quê được đền bù thì 2 con trai h;í hửng tới tận nơi đòi chia tiền, tôi giả vờ tươi cười đồng ý rồi cho lũ bất hi//ếu bài học nhớ đời…
Tôi có ba người con. Hai trai một gái. Con gái út lấy chồng xa, thằng rể thương tôi như mẹ ruột, bảo tôi lên thành phố sống từ sau khi chồng tôi mất. Thế là tôi ở cùng con gái 15 năm, chăm cháu, cơm nước, thuốc thang, đến lúc bệnh tôi nặng nó là người chở tôi đi viện, bón từng thìa cháo.
Căn nhà cũ dưới quê bỏ hoang nhiều năm, đến khi có dự án đường cao tốc đi qua, người ta đến kiểm kê rồi thông báo đền bù gần 2,8 tỷ. Tôi cũng bất ngờ. Nhưng còn chưa kịp mừng thì hai đứa con trai vốn bặt vô âm tín suốt bao năm, bỗng lái ô tô về làng, vênh mặt đến tìm tôi ở xã.
Thằng cả đập bàn:
“Bà già, tiền nhà đó cũng là của tụi con, chia 3 đi chứ!”
Thằng út hùa theo:
“Bao năm rồi mẹ không ở quê, tụi con trông coi chứ ai? Mẹ mà giữ hết thì chẳng khác gì ăn hết phần con cháu.”
Tôi cười tươi roi rói, gọi cán bộ địa chính, xác nhận luôn cho chúng là tôi đồng ý chia.
Tôi còn mời tụi nó lên thành phố ăn cơm. Chúng hí hửng, tưởng tôi nhún nhường. Tôi nấu một bữa thật tươm tất, mời cả rể và con gái về ngồi đầy đủ. Đúng lúc ăn, tôi rút sẵn một xấp hồ sơ, trải ra bàn rồi tuyên bố..
Tôi thong thả húp một ngụm canh, nhìn gương mặt hớn hở, tham lam của hai thằng con trai đang gắp lia lịa những món ngon mà em gái chúng nhọc công chuẩn bị. Tôi rút xấp hồ sơ đặt lên bàn, giọng rành rọt:
“Mẹ đã tính kỹ rồi. Căn nhà dưới quê được đền bù 2,8 tỷ. Ý tụi con là chia ba, mỗi đứa hơn 900 triệu đúng không? Mẹ đồng ý, nhưng trước khi ký giấy nhận tiền, mẹ con mình phải quyết toán một khoản ‘nợ’ nhỏ này đã.”
Bảng “hóa đơn” 15 năm tình nghĩa
Tôi đẩy tờ giấy đầu tiên về phía hai thằng con trai. Đó là bảng kê chi tiết viện phí, thuốc thang và sinh hoạt phí suốt 15 năm tôi ở nhà con rể.
Viện phí 3 đợt mổ: Tổng cộng 450 triệu đồng. Toàn bộ là tiền vợ chồng đứa út vay mượn và làm lụng trả dần.
Chi phí sinh hoạt: 15 năm ăn ở, điện nước, mỗi tháng tính rẻ 3 triệu, tổng là 540 triệu đồng.
Tiền công chăm sóc: Những ngày tôi nằm liệt giường, con gái và con rể thay nhau đổ bô, lau mình, bón cháo.
Tôi cười tươi, ánh mắt sắc lẹm:
“Mười lăm năm qua, khi mẹ ốm đau, tụi con bận làm giàu nên không về. Vợ chồng đứa út đã gánh hết thay phần trách nhiệm của tụi con. Giờ chia tiền nhà, thì tiền phụng dưỡng mẹ mười mấy năm qua cũng phải chia đều chứ?”
Cái kết của những kẻ “bất hiếu”
Hai thằng con trai cứng họng, mặt cắt không còn giọt máu. Thằng cả lúng túng: “Thì… thì chuyện hiếu thảo là tự nguyện, sao mẹ lại tính toán?”
Tôi đập mạnh xấp hồ sơ thứ hai xuống bàn, là bản di chúc và hợp đồng tặng cho tài sản đã có công chứng:
“Tự nguyện là khi tụi con biết nghĩ đến mẹ. Còn với hạng người chỉ biết mò về khi thấy tiền, thì mẹ phải tính cho sòng phẳng.
2,8 tỷ này, mẹ trích 1 tỷ trả lại cho vợ chồng con út tiền phụng dưỡng bao năm qua. 1,8 tỷ còn lại, mẹ đã hiến tặng cho quỹ khuyến học của xã dưới tên của cha tụi con để tích đức cho con cháu.”
Tôi nhìn thẳng vào hai gương mặt đang tái dại vì hụt hẫng:
“Giờ thì ăn nốt bữa cơm này rồi đi cho khuất mắt tôi. Từ nay về sau, căn nhà này không đón tiếp những kẻ ‘đào mỏ’ nữa. Muốn có tiền thì tự đi mà làm, đừng rình rập trên mồ hôi nước mắt của em mình và xương máu của cha mẹ!”
Hai thằng con trai hậm hực đứng dậy, định bù lang bù lóc thì anh con rể vốn hiền lành nãy giờ mới đứng lên, mở cửa rồi dõng dạc: “Mời hai anh về cho, mẹ tôi cần nghỉ ngơi!”
Tôi nắm chặt tay con gái và con rể, lòng nhẹ bẫng. Hóa ra, đồng tiền đúng là liều thuốc thử lòng người nhạy nhất, và tôi đã chọn đúng người để nương tựa tuổi già.
Mua được căn chung cư 8 tỷ chưa kịp ăn tân gia thì mẹ chồng ở quê đã bán ngay căn nhà cũ được 3 tỷ cho hết con trai cả và con gái. Nhà tôi không được một đồng, bà còn chuyển hẳn lên thành phố ở với vợ chồng tôi, tiện thể đưa hai con của anh chồng lên “chơi hè” suốt ba tháng… Tôi không cãi, chỉ lặng lẽ làm đúng một việc, ba ngày sau bà tự thu dọn hàn///h lý, bắt xe về quê…
Ngày vợ chồng tôi nhận chìa khóa căn chung cư mới, ai cũng chúc mừng.
Căn hộ rộng gần 130 mét vuông, trị giá hơn 8 tỷ đồng, nằm ở khu trung tâm. Đó là thành quả của hơn mười năm làm việc quần quật của hai vợ chồng.
Tôi tên T., còn chồng tôi là H.
Nhiều người nhìn vào cứ nghĩ nhà chồng tôi giàu nên mới mua nổi căn hộ như vậy.
Nhưng sự thật thì ngược lại.
Hơn 90% số tiền là tiền tích lũy của hai vợ chồng. Phần còn thiếu, chúng tôi vay ngân hàng.
Ngay cả khoản đặt cọc đầu tiên cũng là tiền tôi bán căn hộ nhỏ mua trước khi kết hôn.
Mẹ chồng tôi – bà L. – chưa từng góp lấy một đồng.
Ngày nhận nhà, bà gọi điện từ quê.
– Mẹ mừng cho hai đứa. Nhà đẹp thì nhớ đón mẹ lên ở nhé.
Tôi cười.
– Dạ, lúc nào mẹ thích thì lên chơi.
Tôi nói “lên chơi”.
Nhưng có lẽ bà nghe thành “lên ở”.
…
Một tuần sau.
Tôi đang chọn rèm cửa thì H. nhận được cuộc gọi.
Anh nghe xong mặt tái mét.
– Sao thế?
– Mẹ… bán nhà rồi.
Tôi giật mình.
– Bán?
– Ừ… bán luôn căn nhà ở quê.
Tôi ngơ ngác.
– Thế mẹ ở đâu?
Anh gãi đầu.
– Chắc… lên ở với mình.
Tôi chết lặng.
Chưa kịp tiêu hóa thông tin thì H. nói tiếp.
– À… mẹ còn bảo sẽ đưa hai cháu của anh C. lên nghỉ hè ba tháng luôn.
Tôi ngẩng đầu.
– Hai cháu?
– Ừ.
– Nghỉ hè… ở đây?
– Vâng…
…
Tối hôm đó, anh C. gọi video.
Vừa thấy em trai, anh cười.
– Tốt quá. Nhà mày rộng mà. Mẹ già rồi, ở với tụi mày tiện hơn.
Rồi anh nói thêm.
– Hai đứa nhỏ nhà anh lên thành phố học hỏi, cho biết cuộc sống.
Tôi hỏi.
– Bao lâu?
– Ba tháng.
Ba tháng…
Tôi nhìn lịch.
Một kỳ nghỉ hè.
Tôi quay sang hỏi H.
– Anh đồng ý rồi à?
Anh cười gượng.
– Anh cũng khó từ chối.
…
Ba hôm sau.
Một chiếc xe tải dừng trước chung cư.
Xuống xe là mẹ chồng.
Theo sau là hai đứa cháu.
Cuối cùng là gần hai chục bao tải đồ.
Nồi niêu.
Chăn màn.
Quạt.
Bàn thờ.
Cây cảnh.
Thậm chí cả chiếc ghế gỗ cũ.
Tôi đứng hình.
Bà vui vẻ.
– Nhà rộng thế này, để không phí.
Bảo vệ phải chở đồ lên ba lượt.
Hàng xóm cứ tưởng nhà tôi chuyển cả quê lên.
…
Buổi tối.
Bà họp gia đình.
– Mẹ bán nhà được hơn 3 tỷ.
Tôi hỏi.
– Tiền đâu rồi mẹ?
Bà tỉnh bơ.
– Chia cho anh C. với con H. mỗi người một nửa.
Tôi khựng lại.
– Anh H. có nhận đâu?
Bà cười.
– Ý mẹ là chia cho nhà anh C. với con gái mẹ.
Con gái bà là cô Ú.
Lấy chồng gần quê.
…
Tôi nhìn chồng.
Anh cúi đầu.
Vậy là…
Con trai út – người đang nuôi mẹ.
Không có một đồng.
…
Nhưng chuyện chưa dừng ở đó.
Ngày hôm sau.
Bà tuyên bố.
– Phòng lớn nhất để mẹ.
Hai đứa nhỏ ở phòng khách.
Sau này tính tiếp.
Tôi hỏi.
– Còn phòng làm việc của con?
– Làm việc gì suốt.
Biến thành phòng học cho tụi nhỏ.
…
Một tuần.
Nhà tôi biến thành nhà trẻ.
Hai đứa nhỏ chạy khắp nơi.
Bật điều hòa cả ngày.
Tivi mở hết cỡ.
Ăn xong không dọn.
Đồ chơi vứt đầy sàn.
Có hôm chúng còn vẽ bút lông lên tường mới sơn.
Tôi nhắc.
Bà gắt.
– Trẻ con mà.
…
Tôi tăng ca về.
Định nghỉ ngơi.
Thì thấy cả nhà anh C. đang gọi vid/eo.
Bà khoe.
– Nhà em trai con rộng lắm.
Sau này về hưu mẹ ở đây luôn.
Tôi nghe mà lạnh người.
…
Đỉnh điểm là hóa đơn điện.
Gần 8 triệu.
Nước gần 2 triệu.
Phí dịch vụ tăng.
Siêu thị mỗi tuần hơn chục triệu.
Tất cả đều do vợ chồng tôi trả.
Không ai nhắc đến chuyện chia sẻ.
…
Một hôm.
Tôi vô tình nghe bà nói điện thoại.
– Bán nhà đúng là sáng suốt.
Giờ khỏi lo già.
Có thằng út nuôi.
Tiền thì để cho thằng cả với con gái.
Nghe đến đó…
Tôi hiểu.
Trong suy nghĩ của bà.
Con út chỉ có nhiệm vụ trả hiếu.
Không có quyền nhận.
…
Tối hôm ấy.
H. hỏi.
– Em giận mẹ à?
Tôi lắc đầu.
– Không.
– Thế em định làm gì?
Tôi mỉm cười.
– Không làm gì cả.
Chỉ làm đúng việc của mình..
Một nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi tôi. Tôi không cãi nhau một lời, cũng chẳng thèm tỏ thái độ gay gắt hay cằn nhằn với chồng. Thay vào đó, tôi bắt tay vào hành động – nhẹ nhàng, văn minh nhưng cực kỳ dứt khoát.
1. Cuộc họp bất ngờ lúc 6 giờ sáng
Sáng hôm sau, khi bà L. vừa ngủ dậy và hai đứa cháu còn đang ngáp ngắn ngáp dài ngoài phòng khách, tôi đã ăn mặc chỉn chu, đặt lên bàn ăn một xấp tài liệu cùng một chiếc bút mực.
Tôi nhẹ nhàng gọi cả nhà lại:
“Mẹ và các cháu ở đây chơi mấy hôm rồi, hôm nay con mới có thời gian làm thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng và bàn giao nội quy chung cư. Ở đây quản lý nghiêm lắm mẹ ạ, không làm đúng là công an họ phạt cả chục triệu đấy.”
Bà L. hơi giật mình: “Làm gì mà ghê thế?”
Tôi thản nhiên đẩy tờ giấy đầu tiên qua:
Tờ khai phí sinh hoạt chia đều: Tôi tính toán chi tiết từng khoản: Tiền điện, tiền nước, tiền dịch vụ chung cư, tiền ăn uống cho 5 người. Tôi đưa ra con số cụ thể: 25 triệu/tháng.
“Vì mẹ đã chia tiền bán nhà 3 tỷ cho anh C. và cô Ú, nên từ tháng này, tiền ăn ở của mẹ và hai cháu sẽ do anh C. và cô Ú gửi lên. Con đã chia sẵn 2 phần: Anh C. lo cho 2 con là 15 triệu, cô Ú hỗ trợ mẹ 10 triệu. Con vừa tạo nhóm Zalo chung có cả anh C. và cô Ú, con gửi bảng kê vào đó rồi. Mẹ nhắc anh chị chuyển khoản trước ngày 5 hàng tháng nhé.”
Hợp đồng bồi thường tài sản: Tôi chỉ tay vào bức tường bị vẽ bẩn và chiếc sofa da đắt tiền vừa bị đổ nước ngọt:
“Chủ đầu tư quy định giữ gìn vệ sinh chung. Đồ đạc trong nhà toàn đồ nhập khẩu, nếu hư hỏng thì anh C. (với tư cách là bố hai cháu) sẽ phải đền bù theo đúng giá trị niêm yết. Con đã chụp lại hiện trạng và gửi cho anh C. ký online rồi ạ.”
2. Sự “thiết quân luật” hoàn hảo
Chưa dừng lại ở đó, tôi tiếp tục triển khai các quy định chung cư một cách “máy móc” nhất có thể:
Cắt Wi-Fi và Tivi từ 8 giờ sáng đến 10 giờ tối: Tôi đổi mật khẩu Wi-Fi, cài khóa trẻ em trên Tivi thông minh. Khi hai đứa cháu gào lên đòi mở, tôi nhẹ nhàng bảo: “Quy định của khu mình là ban ngày trẻ em phải đọc sách hoặc ra công viên vận động, không được xem Tivi hại mắt.”
Tắt điều hòa phòng khách: Tôi cài đặt lại hệ thống thông minh, điều hòa chỉ chạy từ 11 giờ đêm đến 5 giờ sáng để “tiết kiệm năng lượng theo tiêu chuẩn xanh của tòa nhà”.
Chuyển toàn bộ đồ đạc cũ xuống kho: Tôi thuê ngay một đội chuyển nhà đến, đóng gói toàn bộ 20 bao tải nồi niêu, chăn màn cũ, bàn thờ riêng và chiếc ghế gỗ của bà L. đưa xuống kho gửi đồ dưới hầm (với mức phí 2 triệu/tháng ghi nợ vào tài khoản anh C.). Tôi giải thích: “Ban quản lý gửi văn bản cảnh cáo vì nhà mình để đồ mất mỹ quan, dọa sẽ phạt hành chính nếu không dọn ngay.”
3. Đỉnh điểm trên nhóm gia đình
Cùng lúc đó, trên nhóm Zalo gia đình, tôi gửi liên tục các hóa đơn:
Hóa đơn sơn lại tường phòng khách: 5 triệu.
Hóa đơn giặt sofa da: 2 triệu.
Bảng chi phí ăn uống tuần đầu tiên của 2 cháu.
Tôi tag thẳng tên anh C. và cô Ú:
“Anh C. và cô Ú chuyển khoản sớm giúp vợ chồng em nhé. Dạo này vợ chồng em trả nợ ngân hàng tiền mua nhà 8 tỷ mỗi tháng hơn 40 triệu nên không còn dư đồng nào để bao trọn gói cho cả nhà được nữa. Tiền bán nhà ở quê 3 tỷ anh chị giữ cả rồi, nên chi phí của mẹ và các cháu nhờ anh chị lo liệu giúp ạ.”
Anh C. lập tức gọi điện lên gắt gỏng với H., chê tôi tính toán, khốn nạn, vô ơn. Tôi thản nhiên cầm máy chồng, bật loa ngoài:
“Anh C. ơi, anh thương mẹ với thương con anh thì anh gửi tiền lên. Chẳng lẽ tiền 3 tỷ anh với cô Ú chia nhau tiêu, còn nghĩa vụ nuôi mẹ với nuôi con anh lại đùn hết cho vợ chồng em? Đời làm gì có chuyện khôn hết phần thiên hạ thế ạ?”
Bà L. ngồi bên cạnh, mặt lúc trắng lúc đỏ. Bà định cất tiếng chửi tôi láo xuyệt, nhưng tôi đã bồi thêm một đòn quyết định.
4. Bữa ăn “tiêu chuẩn” và chiếc vé một chiều
Buổi tối hôm đó, trên mâm cơm chỉ có một đĩa rau luộc, một đĩa đậu phụ rán và một ít thịt luộc cắt mỏng.
Bà L. nhíu mày: “Sao ăn uống đạm bạc thế này? Hai đứa nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn.”
Tôi mỉm cười đáp:
“Dạ, tiền chợ tuần này anh C. chưa chuyển sang nên con chỉ cân đối được suất ăn 20.000đ/người/ngày thôi ạ. Khi nào anh C. gửi tiền lên thì con sẽ mua thịt bò, hải sản cho các cháu sau.”
Hai đứa nhỏ nghe thế thì xị mặt, khóc mếu dội ngược đòi về quê vì ở đây “vừa nóng, vừa không có Tivi, không có mạng, lại chẳng được ăn ngon”. Anh C. ở quê thì xót con, lại sợ phải gánh khoản phí 15 triệu/tháng nên liên tục gọi điện thúc giục bà L. đưa hai đứa về.
Sáng ngày thứ ba.
Khi tôi vừa ngủ dậy chuẩn bị đi làm thì thấy phòng khách đã trống hống trống hếch. Bà L. cùng hai đứa cháu đã thu dọn toàn bộ quần áo ngăn nắp vào vali.
Bà L. nhìn tôi bằng ánh mắt vừa giận dữ, vừa có chút kiêng nể. Bà cay đắng bảo: – “Cô giỏi lắm. Tôi không ngờ cô tính toán đến từng đồng từng hào như thế. Nhà này rộng nhưng không có chỗ cho bà già này!”
Tôi vẫn giữ nụ cười lịch sự, tiến đến xách hộ bà chiếc vali ra cửa:
“Mẹ nói thế tội con quá. Con chỉ làm đúng bổn phận: Rõ ràng, minh bạch và fair-play. Tiền của ai người nấy tiêu, trách nhiệm của ai người nấy gánh. Mẹ về quê nghỉ ngơi cho thoải mái, khi nào anh C. và cô Ú gom đủ tiền phụng dưỡng gửi cho vợ chồng con, con lại đón mẹ lên chơi tiếp ạ!”
Tôi chủ động đặt sẵn một chuyến xe taxi công nghệ đưa thẳng ba bà cháu ra bến xe về quê, tiền xe tôi đã thanh toán trước.
Chiếc xe lăn bánh rời đi. Tôi quay trở vào căn hộ 130 mét vuông yên tĩnh, hít một hơi thật sâu. H. đứng ở hành lang, nhìn tôi vừa sợ vừa phục. Tôi mỉm cười vỗ vai chồng: “Thôi, đi pha cà phê rồi vợ chồng mình chọn lại cái rèm cửa mới thôi anh!”
Ba người con thành đạt xuất khẩu lao động, gửi về hơn 5 tỷ đồng cho cha dưỡng già… đến ngày trở về, họ ch//ế/t lặng khi thấy cha mình sống một mình trong căn chòi sắp đổ. đến khi biết sự thật, mọi thứ đã quá muộn…
Suốt hơn mười năm, ba anh em Lan Anh, Minh Quân và Hoàng Nam lần lượt sang nước ngoài làm việc.
Lan Anh là điều dưỡng tại Đức, Minh Quân làm kỹ sư xây dựng ở Nhật Bản, còn Hoàng Nam là đầu bếp tại Úc.
Không ai trong họ có một ngày thật sự dễ dàng.
Có người làm ca đêm triền miên.
Có người phải tăng ca đến kiệt sức.
Có người nhiều năm liền không dám mua một bộ quần áo mới vì muốn tiết kiệm từng đồng.
Mỗi khi nhớ nhà, ba anh em lại gọi video cho nhau.
Lan Anh luôn là người nhắc lại lời hứa năm xưa:
— “Chỉ cần tích cóp đủ tiền, mình sẽ xây cho bố một căn nhà thật khang trang. Bố đã khổ cả đời rồi.”
Hai người em đều gật đầu.
Đó là mục tiêu lớn nhất khiến họ cố gắng suốt ngần ấy năm.
Ở quê, xã nhỏ thuộc tỉnh Nam Định, người cha già ông Nguyễn Văn Lâm, năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, vẫn sống một mình.
Vợ mất sớm.
Ông ở lại căn nhà cũ – nơi ba anh em lớn lên.
Do không thể thường xuyên về nước, cả ba thống nhất giao việc chăm sóc bố cho người cháu họ tên Trần Văn Cường.
Mỗi tháng, họ đều chuyển đều đặn gần 80 triệu đồng vào tài khoản của Cường.
Ngoài tiền sinh hoạt, thuốc men và ăn uống, họ còn dặn:
— “Nếu nhà xuống cấp thì cứ sửa ngay. Thiếu bao nhiêu cứ báo, bọn em gửi thêm.”
Lần nào Cường cũng trả lời rất nhanh:
— “Mọi người yên tâm. Bác Lâm khỏe lắm. Ăn uống đầy đủ, thuốc thang không thiếu gì.”
Mỗi lần ba anh em xin nói chuyện với bố, Cường đều có lý do.
— “Bác ngủ rồi.”
— “Bác đang ra đồng.”
— “Điện thoại hết pin.”
— “Ở quê sóng yếu lắm.”
Ban đầu họ cũng thấy lạ.
Nhưng nghĩ Cường là cháu ruột trong nhà, lại được mọi người tin tưởng nên chẳng ai nghi ngờ.
Thời gian trôi qua.
Nhờ chăm chỉ làm việc, ba anh em tích lũy được hơn 5 tỷ đồng.
Họ quyết định cùng xin nghỉ phép về nước.
Không báo cho bất kỳ ai.
Họ muốn dành cho bố một bất ngờ thật lớn.
Trên xe là vô số quà.
Quần áo mới.
Thuốc bổ.
Thiết bị massage.
Và đặc biệt là bản thiết kế căn biệt thự hai tầng trên chính mảnh đất cũ của gia đình.
Lan Anh cười:
— “Lần này bố sẽ không phải sống khổ nữa.”
Chiếc xe vừa dừng trước cổng nhà cũ…
Cả ba bỗng khựng lại.
Trong sân là những người hoàn toàn xa lạ.
Ngôi nhà cũng đã được sửa sang thành của người khác.
Minh Quân bước xuống, lịch sự hỏi:
— “Cho cháu hỏi… đây trước kia là nhà của bác Nguyễn Văn Lâm. Bố cháu giờ ở đâu ạ?”
Người phụ nữ đang quét sân nhìn ba anh em với ánh mắt ái ngại.
Bà im lặng khá lâu rồi mới khẽ đáp:
— “Ông Lâm… bán căn nhà này gần bốn năm trước rồi.”
Cả ba như chết lặng.
Lan Anh lắp bắp:
— “Không thể nào… bố cháu đâu có thiếu tiền…”
Người phụ nữ thở dài.
— “Nếu tìm ông thì đi hết con đường này, qua cánh đồng lúa, cuối bờ mương sẽ thấy một căn chòi nhỏ…”
Không đợi nghe hết câu.
Ba anh em lập tức chạy theo hướng bà chỉ.
Mười phút sau…
Giữa cánh đồng hoang vắng.
Hiện ra trước mắt họ là một căn chòi tạm dựng bằng những tấm ván mục, mái tôn thủng lỗ chỗ, bạt nhựa vá chằng vá đụp.
Bên ngoài chỉ có vài can nước cũ.
Một bếp củi đen kịt.
Đôi dép nhựa đã mòn gần đứt quai.
Trước cửa…
Một ông lão g//ầy g/ò, mái tóc bạc trắng, mặc chiếc áo đã sờn vai, đang lặng lẽ ngồi vá lại chiếc rổ tre.
Lan Anh run rẩy gọi:
— “Bố…!”
Ông lão từ từ ngẩng đầu.
Đôi mắt đục vì tuổi tác bỗng mở to.
Chiếc kim trên tay rơi xuống đất.
Ông nghẹn ngào:
— “Các con… về rồi sao…”
Lan Anh òa khóc nức nở.
Minh Quân đứng ch//ết trân, hai bàn tay siết chặt đến trắng bệch.
Hoàng Nam lặng người, cảm giác như toàn thân không còn chút sức lực.
Mười năm xa quê.
Hơn 10 tỷ đồng gửi về.
Thế nhưng người cha mà họ luôn muốn báo hiếu…
Lại đang sống cô độc trong một căn chòi có thể đổ sập bất cứ lúc nào khi mưa bão kéo đến.
Nhưng đó vẫn chưa phải sự t//hật đau l//òng nhất…
Bởi chỉ vài phút sau, một người hàng xóm nói ra một câu khiến cả ba anh em bủn rủn chân tay…
“Các cậu tưởng số tiền gửi về đều đến tay bác Lâm thật sao?”
Dưới đây là phần kết nối tiếp câu chuyện, vừa logic với các chi tiết đã nêu, vừa giữ trọn nét nhân văn và ấm áp tình phụ tử:
Sự Thật Cay Đắng
Người hàng xóm nhìn ba anh em, thở dài thắt lòng:
— “Tiền các cháu gửi về, tên Cường nó dính vào cờ bạc, lô đề rồi nướng sạch. Nó không những không đưa cho bố cháu một đồng sinh hoạt nào, mà còn dụ dỗ ông ký giấy sang tên ngôi nhà cũ để gán nợ. Khi chủ nợ đến đuổi, ông Lâm mới biết mình bị cháu ruột lừa. Ông sợ các cháu ở xa lo lắng, ảnh hưởng đến công việc nên kiên quyết cấm xóm giềng không ai được nói ra…”
Cả ba anh em như sụp đổ. Minh Quân uất nghẹn, hai đấm tay rung lên bần bật định lao đi tìm Cường, nhưng một bàn tay gầy gò, chằng chịt gân máu đã nhẹ nhàng giữ vạt áo anh lại.
Bố Lâm run run nhìn ba người con, đôi mắt đục mờ ầng ậng nước:
— “Đừng con… Cường nó sai, pháp luật sẽ xử lý. Bố không sao cả. Bố chỉ sợ các con ở xứ người vất vả, nghe tin rồi suy sụp, làm ăn không yên…”
Ông Lâm chậm rãi gỡ chiếc túi vải sờn cũ giấu dưới gối bông, cẩn thận lấy ra một cuốn sổ tiết kiệm đã cũ mèm. Ông dúi cuốn sổ vào tay Lan Anh:
— “Mấy năm qua, bố đi nhặt ve ve, làm thuê vặt vặt… Tiền Cường thỉnh thoảng ném cho vài đồng ít ỏi để bịt miệng, bố không dám tiêu một xu. Bố dồn lại được vài chục triệu… Bố tính tích góp để sau này các con về có cái mà dắt lưng làm vốn. Bố già rồi, ở chòi hay ở nhà tầng cũng thế thôi, miễn là các con của bố được bình an…”
Ba anh em gục đầu vào lòng cha mà khóc như những đứa trẻ. Họ nhận ra, suốt mười năm qua, họ mải miết chạy theo mục tiêu tích trữ tiền bạc để “báo hiếu”, nhưng thứ người cha già cần nhất chưa từng là căn biệt thự hai tầng hay khoản tiền 5 tỷ đồng, mà là sự hiện diện và sự che chở của gia đình.
Cái Kết Nhân Văn
Ngay trong tuần đó, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và chứng cứ từ dân làng, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Cường đã bị đưa ra ánh sáng pháp luật. Căn nhà cũ cùng mảnh đất kỷ niệm của gia đình được công an hỗ trợ làm thủ tục thu hồi lại cho ông Lâm.
Số tiền 5 tỷ đồng tích góp bấy lâu, ba anh em không còn đặt nặng việc phải xây một ngôi biệt thự xa hoa lộng lẫy để khoe khoang nữa. Họ dùng một phần tiền để sửa sang lại căn nhà cấp bốn ấm cúng, kiên cố, có vườn cây ăn quả và góc sân rộng để bố vui thú tuổi già.
Số tiền còn lại, Minh Quân và Hoàng Nam quyết định không trở lại nước ngoài nữa. Họ dùng vốn mở một xưởng cơ khí và một nhà hàng nhỏ ngay tại quê nhà Nam Định, vừa tự chủ kinh tế, vừa luân phiên chăm sóc bố. Lan Anh sau khi hết hạn hợp đồng ở Đức cũng trở về xin làm việc tại bệnh viện tuyến tỉnh gần nhà.
Lời Bạt
Mùa thu năm ấy, căn nhà nhỏ rộn rã tiếng cười nói. Dưới giàn thiên lý xanh mượt, ông Lâm thong thả ngồi uống trà, mắt mỉm cười nhìn ba đứa con cùng nhau chuẩn bị bữa cơm chiều.
Đó không phải là một căn biệt thự lộng lẫy nhất vùng, nhưng lại là ngôi nhà ấm áp nhất — nơi tình yêu thương không còn bị đo đếm bằng những con số chuyển khoản, và niềm hạnh phúc báo hiếu rốt cuộc đã trọn vẹn khi không còn quá muộn màng.
Sáng hôm sau, ánh nắng le lói xuyên qua tán lá cao su nhưng không sao xua tan được vẻ u ám bao trùm cả khu nhà. Anh Lực ngồi gục bên hiên nhà, đôi vai rũ rượi. Gương mặt anh hốc hác, đôi mắt đỏ ngầu vì thức trắng đêm. Nỗi sợ hãi và tuyệt vọng nặng nề như một tảng đá đè nén trái tim anh. Một người bà con đi ngang qua, thấy cảnh tượng đó thì chép miệng thương cảm.
“Anh Lực ơi, anh cố gắng lên chứ.” Người bà con nhẹ giọng an ủi.
Anh Lực ngẩng đầu lên, ánh mắt trống rỗng nhìn vào khoảng không. Giọng anh khản đặc, run rẩy: “Cứ thế này thì tôi chết mất… Tôi không chịu nổi nữa rồi. Không biết Hạnh với con tôi bây giờ đang ở đâu…” Anh Lực vùi mặt vào lòng bàn tay, những tiếng nấc nghẹn ngào bật ra, hòa lẫn vào sự tĩnh lặng đáng sợ của buổi sớm.
Sau những tiếng nấc nghẹn ngào của Anh Lực, một người bà con khác, không thể chịu đựng thêm cảnh tượng đau lòng, đã nhanh chóng chạy đến trụ sở ủy ban xã. Tin tức về sự mất tích bí ẩn của Chị Hạnh và Con gái nhỏ lan đi nhanh chóng, kéo theo nỗi lo âu bao trùm cả vùng.
Đến giữa trưa, một đội tìm kiếm chính thức đã được thành lập. Họ tụ tập dưới tán lá rừng cao su rậm rạp, bao gồm cả những gương mặt nghiêm nghị của lực lượng chức năng trong trang phục màu xanh áo lính, cùng với hàng chục bà con trong làng, mỗi người một cây gậy, một con dao phát cỏ. Trưởng công an xã, với giọng nói dứt khoát, bắt đầu phân chia khu vực tìm kiếm.
“Chúng ta sẽ rà soát từng lô rẫy, từng mét vuông đất, từng con suối nhỏ!” Ông dõng dạc, ánh mắt quét qua từng người. “Bất kỳ dấu vết nào, dù nhỏ nhất, cũng phải báo cáo ngay lập tức!”
Anh Lực, đôi chân run rẩy nhưng ý chí không hề nao núng, bám sát theo đoàn. Lòng anh như lửa đốt, mỗi nhịp thở là một vết cắt xé. Anh không ngừng gọi tên vợ con, tiếng gọi yếu ớt nhưng đầy khắc khoải, vang vọng giữa rừng cao su rộng lớn. “Hạnh ơi! Con ơi! Hai mẹ con đang ở đâu?” Anh biết mình không thể dừng lại, dù chỉ một giây. Hy vọng, dù mong manh, vẫn còn đó, thôi thúc anh bước tiếp.
Ngày lại qua ngày, dưới những tán lá cao su rậm rạp, những bước chân tìm kiếm dần trở nên nặng nề hơn. Lực lượng chức năng đã rà soát khắp mọi nẻo, từng con suối cạn, từng bờ bụi rậm trong `Rừng cao su`, nhưng không một dấu vết nào của `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ` được tìm thấy. Ánh mắt tuyệt vọng bắt đầu hiện hữu trên gương mặt những người tham gia tìm kiếm.
Sau một tuần, rồi hai tuần, ba tuần trôi qua, cuộc tìm kiếm chính thức dần thu hẹp lại. Các đội chuyên nghiệp phải rút lui, để lại `Anh Lực` cùng vài `bà con` kiên trì bám trụ. Không khí nặng nề bao trùm khắp rẫy, nỗi sợ hãi và bất lực cứ thế len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn. `Anh Lực`, người đàn ông vạm vỡ ngày nào, giờ đây gầy rộc, đôi mắt trũng sâu vì những đêm không ngủ. Chiếc áo sờn bạc phủ trên thân hình chỉ còn da bọc xương.
Mỗi buổi sáng, dù trời `mù sương` hay nắng gắt, `Anh Lực` vẫn lao vào `Rừng cao su`, một mình. Anh gọi tên `Chị Hạnh`, gọi tên `Con gái nhỏ` đến khản cả cổ, tiếng gọi yếu ớt nhưng đầy ám ảnh vang vọng giữa rừng. Anh mò mẫm từng gốc cây, lật từng tảng đá, như một người điên, cầu mong tìm thấy bất kỳ một sợi tóc, một mảnh vải nào. Nhưng vô vọng. Nỗi đau đớn và sự hoang mang giằng xé tâm can anh từng ngày.
`Anh Lực` thường xuyên thẫn thờ đứng trước hiên nhà, đôi mắt vô hồn nhìn thẳng vào `Rừng cao su` thăm thẳm, nơi vợ con anh đã biến mất `7 tuần trước`. Trong đôi mắt anh, không còn tia hy vọng nào, chỉ còn lại sự trống rỗng cùng cực và nỗi ám ảnh kinh hoàng. Từng sợi dây thần kinh trong đầu anh như đang căng ra, rồi đứt phựt. Anh cảm thấy mình đang phát điên, lạc lõng trong chính nỗi tuyệt vọng của mình, bị nuốt chửng bởi sự im lặng ghê rợn của khu rừng.
Ngày tháng cứ thế trôi đi, kéo theo cả sự hy vọng lẫn kiên nhẫn của `bà con` trong làng. Dần dần, những người hàng xóm thân thuộc bắt đầu quay trở lại với nương rẫy, với công việc thường ngày của họ. Tiếng cuốc, tiếng dao phát cỏ lại vang lên loáng thoáng giữa thung lũng, như thể khu rừng chưa từng nuốt chửng hai mẹ con `Chị Hạnh`. Cuộc sống, dù đau thương, vẫn phải tiếp diễn.
Nhưng đối với `Anh Lực`, thời gian dường như đã ngừng lại. Nỗi ám ảnh về `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ` đã ăn sâu vào từng thớ thịt, từng sợi gân của anh. Mỗi buổi sáng, khi ánh bình minh còn đang chật vật len lỏi qua tầng mây dày đặc, `Anh Lực` đã thức giấc. Anh không còn vẻ thẫn thờ như trước, thay vào đó là sự kiên định đến rợn người. Anh vác chiếc `rựa` đã cùn lưỡi, tay kia siết chặt chiếc `đèn pin` đã cũ kỹ, một mình lầm lũi đi thẳng vào `Rừng cao su` thăm thẳm.
Từng bước chân của `Anh Lực` in hằn trên lớp đất ẩm ướt, không chút vội vã nhưng đầy ám ảnh. Anh xuyên qua những bụi cây rậm rạp, những con đường mòn đã bị thời gian xóa nhòa, đôi mắt đảo liên hồi, tìm kiếm trong vô vọng. Anh biết, cơ hội tìm thấy vợ con còn sống ngày càng mong manh, gần như là không còn. Nhưng một sợi tơ hy vọng cuối cùng, dù mỏng manh đến mức nào, cũng đủ để níu giữ anh lại, thúc đẩy anh tiếp tục.
Giữa sự im lặng ghê rợn của khu rừng, chỉ có tiếng gió xào xạc trên tán lá và tiếng bước chân nặng nhọc của `Anh Lực`. Bỗng, một tiếng lẩm bẩm khẽ khàng, như từ một linh hồn lạc lối, vang lên:
“Hạnh ơi, con ơi… hai mẹ con ở đâu rồi? Hạnh ơi…”
Tiếng gọi lạc lõng ấy tan vào không khí, chìm nghỉm giữa đại ngàn `Rừng cao su` bao la, chỉ còn lại sự cô độc và nỗi tuyệt vọng của một người chồng, người cha đang lạc lối trong chính nỗi đau của mình.
Tiếng gọi lạc lõng ấy tan vào không khí, chìm nghỉm giữa đại ngàn `Rừng cao su` bao la, chỉ còn lại sự cô độc và nỗi tuyệt vọng của một người chồng, người cha đang lạc lối trong chính nỗi đau của mình.
Thời gian trôi qua, nỗi sợ hãi và sự ngờ vực bắt đầu len lỏi vào từng ngóc ngách của ngôi làng nhỏ. Những buổi chiều tà, khi ánh nắng yếu ớt khuất dần sau tán lá `Rừng cao su`, những lời thì thầm bắt đầu xuất hiện, như một thứ dịch bệnh vô hình lây lan từ nhà này sang nhà khác.
Trong những căn bếp ấm cúng, hay bên hiên nhà rộn ràng tiếng trẻ con nô đùa ngày trước, giờ đây chỉ còn những ánh mắt lo âu và những câu chuyện rợn tóc gáy.
“Thương quá, nghe nói là hai mẹ con `Chị Hạnh` bị thú dữ trong rừng tha đi rồi,” một người phụ nữ lớn tuổi thì thầm, tay run run vuốt ve đứa cháu nhỏ.
“Đừng nói bậy!” một người đàn ông khác phản bác, nhưng ánh mắt anh ta cũng đầy vẻ hoảng sợ. “Mấy ông già trong làng kể lại, khu rừng đó có nhiều linh hồn khuất mặt lắm. Có khi nào… họ đã gặp phải thứ gì đó không phải của thế gian này?”
Lời đồn như một bóng ma, quẩn quanh khắp nơi. Chúng bám vào từng cơn gió, lướt qua từng hàng cây, gieo rắc sự hoang mang và tuyệt vọng. `Bà con` trong làng, những người từng kề vai sát cánh cùng `Anh Lực` tìm kiếm, giờ đây cũng dần chìm trong sự mê tín và chấp nhận một kết cục bi thảm.
Một chiều nọ, khi `Anh Lực` vừa từ `Rừng cao su` trở về, quần áo lấm lem bùn đất, gương mặt hằn rõ vẻ mệt mỏi và kiên định, anh vô tình nghe được những lời thì thầm đó từ một nhóm `bà con` đang tụ tập bên giếng làng.
“Đừng hy vọng nữa làm gì, `Anh Lực` ơi,” một người phụ nữ nhìn anh bằng ánh mắt ái ngại. “Thôi thì ráng mà lo hậu sự, biết đâu…”
`Anh Lực` khựng lại. Toàn thân anh như đóng băng, rồi một dòng máu nóng bỗng dồn lên, thiêu đốt lồng ngực. Anh siết chặt nắm đấm, đôi mắt đỏ ngầu nhìn thẳng vào người vừa nói.
“Hậu sự?” giọng `Anh Lực` khàn đặc, đầy sự phẫn nộ. “Mọi người nói gì vậy? Vợ con tôi còn sống! Tôi biết chúng còn sống!”
Anh gầm lên, giọng nói vang vọng khắp không gian yên ắng. Sự căm phẫn trong anh bùng lên như ngọn lửa. Anh đau xót khi nghe những lời đồn thổi vô căn cứ đó, nhưng còn căm phẫn hơn khi thấy `bà con` đã từ bỏ hy vọng, chấp nhận một kết cục bi thảm.
“Vô lý!” `Anh Lực` quăng chiếc rựa xuống đất, tiếng kim loại va chạm khô khốc. “Thú dữ? Linh hồn? Tất cả chỉ là lời đồn nhảm nhí! `Chị Hạnh` của tôi không bao giờ bỏ rơi tôi, con gái tôi không bao giờ rời xa tôi! Chúng đang ở đâu đó, đang đợi tôi tìm thấy!”
Anh nhìn quanh một lượt, ánh mắt quét qua từng gương mặt đang cúi gằm xuống. Trong ánh mắt đó là sự giận dữ, nỗi đau tột cùng, nhưng trên hết, là một niềm tin sắt đá, không gì có thể lay chuyển được. `Anh Lực` gạt bỏ tất cả những lời đồn đại, những ánh mắt thương hại, những lời khuyên bảo vô vọng. Anh chỉ tin vào một điều duy nhất: `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ` còn sống, và đang đợi anh tìm thấy.
Đêm xuống, căn nhà nhỏ chìm trong bóng tối dày đặc, nhưng giấc ngủ lại là một thứ xa xỉ đối với `Anh Lực`. Anh trằn trọc trên chiếc giường lạnh lẽo, tâm trí vẫn quẩn quanh câu hỏi về `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ`. Niềm tin mãnh liệt vào sự sống của vợ con anh vẫn cháy bỏng, nhưng nỗi tuyệt vọng từ những lời đồn thổi của `bà con` làng xóm vẫn vương vấn, gặm nhấm.
Anh trở mình, cố gắng tìm một vị trí thoải mái, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. Hình ảnh `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ` cứ hiện lên trong đầu anh, rõ mồn một như mới ngày hôm qua. Rồi, trong mớ ký ức hỗn độn ấy, một chi tiết lạ bỗng nhiên hiện ra, rõ nét đến giật mình.
Đó là buổi sáng trước ngày hai mẹ con mất tích. `Anh Lực` chợt nhớ lại. Khi anh tiễn `Chị Hạnh` và `Con gái nhỏ` từ `Hiên nhà` ra `Rẫy`, `Chị Hạnh` có vẻ lạ thường. Ánh mắt cô cứ lướt nhìn xung quanh, đôi mày khẽ nhíu lại, như đang cố che giấu một nỗi lo lắng nào đó. Một nỗi lo mà `Anh Lực`, trong sự vội vã của buổi sáng, đã bỏ qua.
Anh Lực nhắm chặt mắt, cố đào sâu hơn vào ký ức. Phải rồi! Không chỉ `Chị Hạnh`, mà chính anh cũng từng cảm thấy bất an. Khoảng một tuần trước đó, khi anh đang làm việc ở `Rẫy`, từ xa, anh đã thoáng thấy một bóng người lảng vảng bên bìa `Rừng cao su`, ngay gần khu vực `Rẫy` của gia đình. Một người lạ mặt, quần áo sẫm màu, cứ thấp thoáng rồi lại biến mất sau những thân cây cao su thẳng tắp. Lúc đó, `Anh Lực` chỉ nghĩ đó là ai đó đi lạc hoặc tìm củi, nhưng giờ đây, chi tiết ấy bỗng nhiên mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Đôi mắt `Anh Lực` bật mở, anh giật mình bật dậy khỏi giường, lưng áo ướt đẫm mồ hôi. Tiếng tim đập dồn dập trong lồng ngực. Không phải thú dữ. Không phải linh hồn. Tất cả những lời đồn đó đều vô nghĩa. Một linh cảm mạnh mẽ xé toang màn đêm, mách bảo anh rằng đây chính là manh mối anh đã tìm kiếm bấy lâu nay. Nỗi lo lắng của `Chị Hạnh` và bóng người lạ mặt kia – chúng không thể nào là sự trùng hợp. Có một sự thật khác, kinh hoàng hơn, đang ẩn giấu đâu đó. `Anh Lực` vội vã đứng dậy, ánh mắt sắc như dao, quyết tâm đã tìm thấy một hướng đi mới.
Sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên còn đang cố gắng xuyên qua màn sương mỏng giăng mắc trên những tán lá cao su, Anh Lực đã có mặt tại khu vực rẫy nơi Chị Hạnh và Con gái nhỏ mất tích. Khác với những lần tìm kiếm trước, lần này, ánh mắt Anh Lực không còn sự hoảng loạn vô vọng, mà thay vào đó là sự tập trung đến đáng sợ. Anh cẩn thận quan sát từng bụi cây, từng ngọn cỏ, từng dấu vết nhỏ nhất trên nền đất ẩm. Mỗi bước chân của Anh Lực đều như dò xét, tìm kiếm một lời giải đáp.
Anh Lực đi sâu hơn vào bìa rừng cao su, nơi anh từng thoáng thấy bóng người lạ mặt. Không bỏ sót bất cứ góc khuất nào, anh cúi xuống, dùng tay gạt từng đám lá khô mục, xuyên qua từng thân cây cao su thẳng tắp. Tiếng chim hót líu lo trong không trung, tiếng gió xào xạc qua kẽ lá, tất cả đều bị lu mờ bởi tiếng tim Anh Lực đập dồn dập trong lồng ngực.
Đột nhiên, ánh mắt Anh Lực dừng lại. Dưới gốc cây cao su cổ thụ, nơi lớp đất ẩm còn in hằn dấu chân hoang dại của thời gian, một vật nhỏ màu hồng chợt lấp lánh. Anh Lực khẽ nín thở, thận trọng tiến đến gần. Đó là một chiếc kẹp tóc nhỏ, kiểu dáng đơn giản, nằm khuất một cách tinh vi dưới những lớp lá khô.
Anh Lực từ từ cúi xuống, bàn tay run rẩy nhặt chiếc kẹp tóc lên. Màu hồng quen thuộc, nhưng hình dáng và họa tiết lại hoàn toàn xa lạ. Anh nhìn chằm chằm vào vật nhỏ bé trong lòng bàn tay, một cảm giác lạnh toát chạy dọc sống lưng.
“Đây không phải kẹp của con bé…” Anh Lực lẩm bẩm, giọng nói lạc hẳn đi, như không tin vào điều mình vừa nhận ra. Con gái nhỏ của anh luôn dùng những chiếc kẹp có hình bướm, hình hoa, rực rỡ và bắt mắt. Còn chiếc kẹp này, nó quá đỗi bình thường, và không hề có một chút ký ức nào về nó gắn với Chị Hạnh hay Con gái nhỏ.
Lòng Anh Lực bắt đầu dậy sóng. Sự nghi ngờ ban đầu về một kẻ lạ mặt, giờ đây đã biến thành một luồng điện giật mạnh, khẳng định linh cảm của anh là đúng. Chiếc kẹp tóc này, một vật chứng nhỏ bé, đã mở ra cánh cửa đến một sự thật kinh hoàng hơn tất cả những gì anh từng nghĩ.
Chiếc kẹp tóc nhỏ bé trong lòng bàn tay Anh Lực, giờ đây không còn là vật vô tri mà biến thành một sợi chỉ dẫn mong manh. Anh Lực lập tức đưa mắt tìm kiếm, quét qua từng bụi cây, từng mảng đất xung quanh gốc cây cao su cổ thụ. Ánh mắt anh dán chặt vào nền đất ẩm, nơi những lớp lá khô mục tạo thành một tấm thảm dày.
Dưới tán lá rậm rạp, khuất sau một thân cây cao su khổng lồ, một lối mòn nhỏ hẹp, gần như bị che lấp bởi cỏ dại và lá khô, hiện ra. Nó không phải là con đường mòn quen thuộc mà bà con trong làng thường đi vào rẫy, cũng không phải lối đi của những người tìm củi. Đây là một con đường bí ẩn, ít người qua lại, gần như biến mất giữa thảm thực vật dày đặc của Rừng cao su.
Một cảm giác bất an đột ngột ập đến, lạnh toát sống lưng Anh Lực, nhưng ngay lập tức bị xua đi bởi ngọn lửa quyết tâm cháy rực trong lồng ngực. Anh Lực tin rằng lối mòn này sẽ dẫn anh đến gần hơn với sự thật. Chiếc kẹp tóc đã mở ra một cánh cửa.
Anh Lực hít sâu một hơi, bàn tay nắm chặt chiếc kẹp tóc, bước chân thận trọng lần theo lối mòn. Con đường càng lúc càng dẫn sâu hơn vào khu rừng già, nơi những cây cao su đã vươn mình sừng sững qua bao năm tháng, thân cây to lớn và những cành lá đan xen che khuất gần hết ánh mặt trời. Thảm thực vật dưới chân trở nên dày đặc hơn, dây leo chằng chịt, khiến mỗi bước chân của Anh Lực đều nặng nề, khó khăn.
Tiếng chim rừng ngừng hót, chỉ còn tiếng lá khô sột soạt dưới chân anh và tiếng tim Anh Lực đập dồn dập trong lồng ngực, hòa cùng nhịp thở gấp gáp. Không gian xung quanh trở nên tĩnh mịch đến rợn người, như thể khu rừng đang nín thở dõi theo từng bước chân của anh. Mỗi bước đi, anh Lực đều cảm nhận rõ sự giằng xé giữa hy vọng mong manh được tìm thấy Chị Hạnh và Con gái nhỏ, và nỗi sợ hãi tột cùng về những gì anh có thể sắp phải đối mặt. Anh không được phép dừng lại.
Anh Lực bước đi nặng nề, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Gần một giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ khi anh rẽ vào lối mòn bí ẩn ấy. Khu rừng ngày càng trở nên hoang vu, u ám hơn, những thân cây cao su vươn mình như những bóng ma khổng lồ. Tiếng chim ngừng hót từ lâu, chỉ còn tiếng bước chân anh và tiếng lá khô sột soạt dưới gót giày. Anh Lực cảm thấy một sức nặng vô hình đè nén lên lồng ngực, mỗi hơi thở đều trở nên khó khăn.
Bất chợt, tầm mắt Anh Lực khựng lại. Phía trước, sau một bụi cây rậm, có một khoảng đất nhỏ hiện ra. Nơi đó không phải là lớp lá mục tự nhiên hay rêu phong bao phủ, mà là một khoảng đất đã bị xới tung một cách bất thường, lộ ra lớp đất đỏ ẩm ướt. Trông nó như thể ai đó đã dùng sức cào bới, hoặc một vật nặng nào đó đã bị kéo lê, để lại những vết hằn sâu hoắm trên nền đất.
Cạnh khoảng đất bị xới tung là một chiếc túi vải cũ kỹ, bạc màu, nằm nửa chìm nửa nổi giữa những nhánh cây khô và lớp lá mục. Chiếc túi nhìn quen thuộc một cách đáng sợ.
Anh Lực cảm thấy lồng ngực mình siết chặt, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, đóng băng mọi suy nghĩ trong đầu. Anh quỳ sụp xuống, đôi tay run rẩy gạt lớp lá mục và đất đá sang một bên. Trái tim anh đập thình thịch, những nhịp đập dữ dội đến mức anh có thể cảm nhận rõ ràng trong lồng ngực mình, như tiếng trống dồn dập báo hiệu một tai họa. Anh biết, ngay khoảnh khắc ấy, mình sắp chạm tới một điều gì đó kinh hoàng, một sự thật mà anh đã cố gắng chối bỏ suốt 7 tuần qua, giờ đây không thể trốn tránh được nữa.
Anh Lực hít một hơi thật sâu, rồi từ từ vươn tay, chạm vào chiếc túi vải cũ kỹ. Bàn tay Anh Lực run lẩy bẩy khi nắm lấy quai túi, kéo nhẹ nó ra khỏi đống lá mục ẩm ướt. Chiếc túi nặng trịch, dường như bị ngấm nước mưa từ lâu. Anh Lực đặt nó lên khoảng đất trống, mở phanh miệng túi.
Bên trong, anh thấy vài bộ quần áo cũ sờn của Chị Hạnh và Con gái nhỏ, cùng với một chiếc lược gỗ gãy một bên răng. Mùi ẩm mốc xộc lên mũi, nhưng điều khiến Anh Lực chết sững không phải là mùi hương ấy. Dưới đáy túi, ẩn mình giữa những lớp vải, là một mảnh giấy nhỏ nhàu nát. Mảnh giấy chỉ bằng lòng bàn tay, được gấp vội và dính chặt vào một góc túi.
Đôi mắt Anh Lực dán chặt vào mảnh giấy. Bằng một động tác chậm rãi, anh nhặt nó lên, từ từ mở ra. Nét chữ quen thuộc của Chị Hạnh hiện rõ mồn một trên nền giấy đã ố vàng. Từng nét mực như đâm thẳng vào tim Anh Lực, khiến anh khó thở.
“Lực ơi, có người…”
Dòng chữ dừng lại đột ngột, như thể Chị Hạnh đã bị gián đoạn khi đang viết. Nét chữ cuối cùng nhòe đi, tạo thành một vệt mực dài, lạnh lẽo và đầy ám ảnh. Tay Anh Lực siết chặt mảnh giấy, đến mức nó nhăn nhúm thêm. Máu trong người Anh Lực như đông lại, mọi giác quan tê liệt. “Có người…” Anh Lực lẩm bẩm, giọng nói lạc hẳn đi, run rẩy và đầy hoảng loạn. Khuôn mặt anh trắng bệch, nỗi sợ hãi tột cùng hiện rõ trong đôi mắt đỏ ngầu. Không, đây không phải là một vụ mất tích thông thường. Đây là một thứ gì đó kinh khủng hơn nhiều. Anh Lực ngẩng đầu nhìn vào sâu thẳm khu rừng cao su u ám, một linh cảm rợn người chạy dọc sống lưng. Chị Hạnh và con gái đã không biến mất một cách đơn thuần. Họ đã bị… bắt đi.
Anh Lực cảm thấy như có một luồng điện lạnh toát chạy dọc sống lưng, xuyên thẳng vào tim. Hai chữ “bắt đi” lặp đi lặp lại trong đầu, mỗi lần là một nhát dao cứa vào tâm can anh. Nỗi sợ hãi tột cùng bỗng chốc biến thành một ngọn lửa giận dữ ngùn ngụt, thiêu đốt mọi giác quan. Anh Lực nghiến chặt răng, đôi mắt đỏ ngầu giờ đây hằn lên những tia căm phẫn.
“Không!” Anh Lực gầm lên, giọng nói khản đặc, như một con thú bị thương đang vật lộn. Anh nhìn chằm chằm vào mảnh đất ẩm ướt, nơi chiếc túi vải và mảnh giấy ghi lời nhắn cuối cùng của Chị Hạnh nằm đó. Anh quỳ sụp xuống, đôi tay trần bắt đầu đào bới điên cuồng. Từng thớ đất, từng mảng lá mục bị Anh Lực xới tung lên với một sức mạnh không tưởng. Móng tay anh cắm sâu vào đất, kéo lê những mảng rễ cây và sỏi đá. Những vết xước, vết cắt bắt đầu rướm máu trên bàn tay chai sần, nhưng Anh Lực không hề cảm thấy đau. Nỗi đau trong lòng anh quá lớn, át đi tất cả.
Anh Lực đào sâu hơn, không ngừng nghỉ. Anh ném những nắm đất văng tứ tung, mồ hôi vã ra như tắm, hòa lẫn với những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má lem luốc. Anh hy vọng, trong sự tuyệt vọng cùng cực, có thể tìm thấy thêm bất cứ thứ gì – một dấu vết, một vật dụng nhỏ bé, bất cứ điều gì có thể hé lộ sự thật tàn khốc đã xảy ra vào `Sáng hôm ấy`.
“Hạnh ơi! Con ơi!” Anh Lực gào thét trong vô vọng, tiếng gọi xé lòng vang vọng khắp không gian u tối của `Rừng cao su`. Mỗi tiếng gọi là một nhát dao khoét sâu vào lồng ngực anh. Anh cứ đào, đào mãi, cho đến khi hơi thở trở nên đứt quãng, cánh tay mỏi nhừ và toàn thân rã rời. Khuôn mặt anh tái nhợt, đôi mắt nhìn vào hố đất ngày càng sâu, như nhìn vào một vực thẳm không đáy của sự thật kinh hoàng. Anh Lực đổ sụp xuống cạnh hố đào, đất cát bám đầy người, trong cơn tuyệt vọng cùng cực, anh không còn sức lực để gào thét nữa, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn khô khốc.
Anh Lực nằm bất động bên miệng hố, hơi thở khó nhọc. Ánh nắng ban mai xuyên qua tán lá, rọi xuống gương mặt hốc hác, in hằn sự tiều tụy và đau đớn tột cùng. Những ngày sau đó, Anh Lực sống như một cái bóng. Mỗi sáng thức dậy, hình ảnh mảnh giấy nhàu nát với hai chữ “bắt đi” lại hiện rõ mồn một trong tâm trí anh, như một lời nguyền rủa. Anh Lực ám ảnh. Anh ngồi hàng giờ trong hiên nhà, lặng lẽ nhìn vào hư không, hoặc lại lang thang ra rừng cao su, quanh quẩn bên khu đất anh đã điên cuồng đào xới. Khu đất giờ đây như một vết sẹo lớn trên mặt đất, một bằng chứng câm lặng về sự thật tàn khốc mà anh chưa thể nắm bắt. Anh Lực cố gắng tìm kiếm, lật từng tảng đá, bới từng gốc cây, hy vọng mong manh tìm thấy một dấu vết dù nhỏ nhất. Nhưng vô vọng.
Thời gian trôi qua, chậm chạp và giày vò. Bảy tuần đã qua đi kể từ sáng hôm ấy định mệnh. Ngày thứ 49. Mặt trời vừa ló dạng sau màn sương mỏng, nhuộm tím cả một góc rừng cao su. Anh Lực bỗng cảm thấy một linh cảm kỳ lạ. Không phải là sự tuyệt vọng, mà là một tiếng gọi mơ hồ, một sức hút khó cưỡng kéo anh về phía khu rừng. Anh Lực đứng dậy, bước đi như bị thôi miên. Đôi chân anh tự động rẽ vào con đường mòn quen thuộc, dẫn sâu vào rừng cao su, nơi anh đã đào bới. Lạ lùng thay, anh không còn cảm thấy sự nặng nề của nỗi đau, chỉ có một sự thôi thúc mạnh mẽ, một niềm tin vô định rằng hôm nay, anh sẽ tìm thấy.
Anh Lực đi nhanh hơn, băng qua những hàng cây cao su thẳng tắp, những giọt sương đêm vẫn còn đọng trên lá. Anh không biết điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước, nhưng trái tim anh đập thình thịch, không phải vì sợ hãi, mà vì một dự cảm lạ lùng, vừa rợn người, vừa đầy hy vọng. Khi Anh Lực đến đúng vị trí khu đất bị xới tung, anh dừng lại. Khu đất vẫn nằm đó, trơ trọi và ẩm ướt. Nhưng lần này, ánh mắt Anh Lực không còn lạc lối. Nó tập trung vào một điểm. Có điều gì đó khác lạ. Anh Lực nín thở, bước chậm rãi về phía trước, như thể sợ làm vỡ tan một ảo ảnh. Một tiếng gọi từ vô định, một sự thật đang hé lộ.
Anh Lực nín thở, bước chậm rãi về phía trước, như thể sợ làm vỡ tan một ảo ảnh. Ánh mắt anh không còn lạc lối, nó tập trung vào một điểm. Có điều gì đó khác lạ, một vết lún nhẹ, một màu đất khác thường giữa khu đất đã bị xới tung. Anh Lực quỳ sụp xuống, bàn tay run rẩy chạm vào lớp đất ẩm ướt. Một luồng khí lạnh lẽo truyền qua từng ngón tay, nhưng nó không phải là cái lạnh của buổi sớm mà là sự lạnh buốt đến tận xương tủy, một cảm giác báo trước điều gì đó khủng khiếp. Nỗi đau mất Chị Hạnh và Con gái nhỏ, sự uất ức về những điều chưa sáng tỏ đã biến thành một sức mạnh điên cuồng, thôi thúc Anh Lực. Anh không nghĩ ngợi. Tâm trí anh trống rỗng, chỉ còn lại sự ám ảnh với việc tìm ra sự thật, một sự thật anh biết chắc chắn đang ẩn mình ngay dưới lớp đất này. Anh Lực bắt đầu đào sâu hơn, không phải bằng xẻng mà bằng chính đôi tay trần. Móng tay anh cắm sâu vào lớp đất mềm, cào cấu mạnh mẽ. Từng nắm đất bị hất ra, văng tung tóe. Hơi thở anh hổn hển, nhịp tim đập thình thịch như muốn vỡ tung lồng ngực. Mồ hôi vã ra trên trán, hòa lẫn với sương sớm, chảy dài xuống gò má hốc hác. Anh đào như thể sinh mạng mình phụ thuộc vào từng nhát bới. Cảm giác đau đớn nơi móng tay bị rách toạc hay những vết xước trên lòng bàn tay hoàn toàn bị lấn át bởi ngọn lửa điên cuồng đang bùng cháy dữ dội trong lòng. Anh Lực không dừng lại. Anh đào, đào mãi, chỉ mong chạm đến thứ gì đó, dù là một mảnh vải, một vật dụng nhỏ, bất cứ thứ gì có thể hé lộ tung tích của Chị Hạnh và Con gái nhỏ. Mỗi nhát bới là một lời thề, một sự thách thức với số phận tàn khốc, một nỗ lực tuyệt vọng để mang sự thật ra ánh sáng.
Anh Lực cào bới điên cuồng bằng tay trần, nhưng càng vào sâu, lớp đất càng cứng, lẫn nhiều rễ cây và đá dăm. Anh cảm nhận được sức mình đang cạn kiệt. Ánh mắt anh lướt qua, chợt nhìn thấy cây xẻng anh đã vứt lăn lóc khi bắt đầu đào bằng tay. Một ý nghĩ lóe lên. Anh phải dùng nó. Anh Lực lao tới, vớ lấy cây xẻng, lưỡi xẻng sắc bén lấp loáng dưới ánh sáng lờ mờ xuyên qua tán lá. Không chần chừ, anh dùng toàn bộ sức lực còn lại, dốc từng nhát xẻng xuống lớp đất cứng. “KENG!” Một âm thanh khô khốc, kim loại va chạm vào vật thể rắn vang lên, xé tan sự tĩnh lặng của khu rừng. Tiếng động khiến Anh Lực giật bắn mình, tim anh đập dữ dội trong lồng ngực. Anh biết rồi. Đây rồi.
Bàn tay Anh Lực run rẩy đánh rơi cây xẻng. Anh quỳ sụp xuống, đôi mắt dán chặt vào vị trí vừa phát ra âm thanh. Không còn dùng xẻng, anh dùng mười ngón tay trần, cào bới vội vã những tảng đất cứng, những viên đá dăm còn sót lại. Từng lớp đất bị gạt bỏ, lộ ra một hình thù vuông vức, tối sẫm. Đó là một chiếc hộp gỗ, đã mục nát theo thời gian, phủ đầy rêu phong và những mảng đất ẩm ướt. Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng Anh Lực, không phải vì sương đêm, mà là sự lạnh lẽo của một sự thật kinh hoàng sắp phơi bày. Anh cảm thấy như mình đang đứng trước một cánh cửa địa ngục.
Anh Lực nín thở, hai tay run rẩy chạm vào chiếc hộp. Lớp gỗ đã quá mục ruỗng, chỉ cần một lực nhẹ cũng có thể vỡ tan. Anh gỡ từng mảng gỗ mục, chậm rãi, như sợ làm tổn hại đến bí mật đang được phong kín bên trong. Cái hộp mở ra. Không có hài cốt, không có xương cốt của Chị Hạnh hay Con gái nhỏ như anh đã ám ảnh tưởng tượng suốt bấy lâu. Thay vào đó, nằm gọn gàng bên trong, là một cuốn sổ tay cũ kỹ, bìa đã ố vàng, gần như rã rời. Và bên cạnh nó, một vật sắc lạnh rợn người: một con dao rựa. Lưỡi dao đã hoen gỉ, nhưng trên đó, những vết máu khô đen sẫm vẫn còn in hằn rõ rệt, lạnh lẽo và ghê tởm.
Anh Lực vươn tay, nhặt cuốn sổ lên. Từng trang giấy mỏng manh, ố vàng như thể giữ cả một tấn bi kịch. Mở ra. Những dòng chữ viết vội, run rẩy của Chị Hạnh hiện ra, như một lời thì thầm từ cõi chết. Đó là nhật ký của cô ấy, những dòng ghi chép cuối cùng. Anh Lực chỉ kịp đọc lướt qua vài câu, nhưng bấy nhiêu cũng đủ để xé nát tâm can anh. Cuốn sổ không chỉ kể về những ngày tháng cuối cùng của Chị Hạnh, mà còn hé lộ một âm mưu động trời, một sự phản bội tàn độc mà anh chưa bao giờ ngờ tới, và cả gương mặt của kẻ thủ ác thực sự. Tất cả sự thật đã bị chôn vùi dưới lớp đất này, cùng với ước mơ và sự sống của Chị Hạnh và Con gái nhỏ.
Mọi thứ sụp đổ trong tâm trí Anh Lực. Nỗi đau, sự uất ức, giận dữ và kinh hoàng bùng nổ cùng một lúc. Anh ôm chặt cuốn sổ, con dao rựa lạnh buốt vẫn nằm đó, như một minh chứng cho tội ác tày trời. Một tiếng hét xé lòng vọt ra khỏi cuống họng Anh Lực. Tiếng hét của sự tan vỡ, của nỗi tuyệt vọng, của sự phẫn nộ không thể kìm nén. Nó vang vọng khắp khu rừng cao su tĩnh mịch, xé toạc không gian, như một lời nguyền rủa cho kẻ đã gây ra tội ác tày đình này. Anh Lực gục xuống, tiếng hét vẫn cứ vang vọng, mang theo tất cả sự thống khổ của một người chồng, một người cha vừa tìm thấy sự thật kinh hoàng nhất cuộc đời mình.
Tiếng hét của Anh Lực tắt lịm, chỉ còn lại những tiếng nấc nghẹn ngào vỡ vụn trong cuống họng. Anh Lực ôm chặt cuốn sổ cũ kỹ và con dao rựa hoen gỉ, cơ thể anh quỵ xuống, gập lại như một con rối đứt dây. Từng thớ thịt, từng mạch máu trong người Anh Lực run rẩy bần bật như vừa bị một dòng điện cao thế chạy qua. Gương mặt Anh Lực trắng bệch không còn một giọt máu, đôi mắt anh trợn trừng vô hồn nhìn xuyên qua bóng đêm mịt mùng của khu rừng cao su, đầy rẫy sự kinh hoàng và ghê tởm tột độ.
Anh Lực không thể tin vào những gì đôi mắt mình vừa đọc được từ cuốn nhật ký nhuốm màu bi kịch. Từng con chữ của Chị Hạnh, từng dòng mô tả sự thật tàn khốc cứa vào tâm can Anh Lực sâu hơn cả trăm nhát dao. Nó không chỉ là cái chết, nó là sự phản bội, là sự ác độc tận cùng mà Anh Lực chưa bao giờ dám hình dung. Mọi niềm tin, mọi hình ảnh tốt đẹp về một người anh đã từng quen biết bỗng sụp đổ tan tành.
“Không thể nào…” Anh Lực thì thầm, giọng nói méo mó, lạc đi trong cổ họng khô khốc. Anh Lực siết chặt cuốn sổ, những ngón tay trắng bệch hằn lên bìa giấy ố vàng. “Không thể là người đó!” Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Anh Lực, không phải vì sương đêm, mà vì sự thật còn rợn người hơn bất kỳ nỗi ám ảnh nào về ma quỷ. Cái tên được nhắc đến trong cuốn nhật ký, cái gương mặt của kẻ thủ ác, hiện lên rõ mồn một trong tâm trí Anh Lực, xé nát mọi thứ còn sót lại trong anh.
Anh Lực không còn đủ sức để gào thét nữa. Cái tên in hằn trong đầu anh như một vết sẹo bỏng rát, thiêu cháy mọi hy vọng, mọi niềm tin. Sự đau đớn biến thành một nguồn năng lượng điên cuồng, đẩy Anh Lực bật dậy. Anh Lực ôm chặt cuốn sổ cũ kỹ và con dao rựa hoen gỉ, thứ bằng chứng rợn người nằm gọn trong vòng tay siết chặt. Không chút do dự, không một cái ngoảnh đầu, Anh Lực lao đi như một con thú bị thương nặng, băng qua những hàng cây cao su mờ sương, tiếng bước chân thình thịch như tiếng trống trận dồn dập trong màn đêm. Cả khu rừng cao su dường như cũng run rẩy dưới gót chân Anh Lực, chứng kiến sự bàng hoàng và quyết tâm tột độ.
Anh Lực chạy, không biết mệt mỏi, không màng đến những cành cây quất vào mặt, những bụi gai cào xé da thịt. Tâm trí Anh Lực chỉ còn một mục tiêu duy nhất: đưa sự thật ra ánh sáng, trừng trị kẻ đã cướp đi Chị Hạnh và con gái nhỏ của Anh Lực, đã hủy hoại cả gia đình anh. Hơi thở Anh Lực đứt quãng, lồng ngực như muốn vỡ tung, nhưng đôi chân anh vẫn không ngừng chạy, vượt qua con đường đất gồ ghề, xuyên qua những ngôi nhà lợp ngói im lìm trong sương đêm. Cuối cùng, bóng đèn lờ mờ của đồn công an hiện ra trước mắt Anh Lực, như một ngọn hải đăng duy nhất trong cơn bão tố cuộc đời anh.
Anh Lực xông thẳng vào đồn, gương mặt bơ phờ, quần áo lấm lem bùn đất và lá cây, đôi mắt đỏ ngầu chực trào nước. Viên cảnh sát trực ca giật mình, vội vàng tiến đến.
“Có chuyện gì vậy, Anh Lực?”
Giọng Anh Lực khản đặc, lạc đi trong cổ họng khô khốc. Anh Lực đặt cuốn sổ và con dao rựa lên bàn, đôi bàn tay run rẩy chỉ vào từng trang giấy ố vàng. “Họ… họ bị giết… đây là bằng chứng… Chị Hạnh… con gái tôi…”
Viên cảnh sát nhanh chóng nhận ra sự nghiêm trọng của tình hình. Anh ta vội vã tập hợp đội, lệnh cho cấp dưới khóa chặt hiện trường, đồng thời cử người đến kiểm tra khu Rừng cao su ngay lập tức. Tin tức về vụ việc rúng động nhanh chóng lan truyền khắp làng.
Buổi sáng hôm sau, cả làng như bị sét đánh ngang tai. Những tiếng xì xào, những ánh mắt hoảng loạn chen chúc nhau trước cổng đồn và quanh khu vực Rừng cao su. Xe cảnh sát, xe cứu thương nối đuôi nhau, tiếng còi hú vang xé tan sự bình yên vốn có của vùng quê hẻo lánh. Bà con làng xóm tụ tập thành từng nhóm nhỏ, không ai dám tin vào những gì mình đang nghe.
“Thật không thể tin nổi! Ai lại có thể làm chuyện tày đình như vậy?” Một người phụ nữ thốt lên, đôi tay ôm lấy miệng, đôi mắt ráo hoảnh.
“Bằng chứng gì mà Anh Lực tìm thấy? Sao lại rợn người đến thế?” Một người đàn ông khác hỏi, giọng nói đầy sợ hãi.
Bí mật đen tối mà Anh Lực đã phát hiện, giờ đây được cảnh sát dần hé mở. Những lời khai ban đầu, cùng với các vật chứng thu được từ khu rừng, bắt đầu vẽ nên một bức tranh kinh hoàng, vượt xa mọi suy đoán của người dân trong làng. Khu rừng cao su, nơi từng là biểu tượng của sự sống và công việc, giờ đây trở thành một địa điểm ám ảnh, gắn liền với một vụ án kinh hoàng. Mỗi chi tiết được hé lộ lại khiến cả làng chìm sâu hơn vào sự hoảng loạn và căm phẫn tột độ.
Sau những ngày tháng cuồng loạn, khi sự thật đã được phơi bày và công lý đã bắt đầu hành động, một sự tĩnh lặng đáng sợ bao trùm lấy ngôi làng. Những ồn ào của xe cảnh sát, những tiếng xì xào bàn tán dần lắng xuống, nhường chỗ cho một nỗi buồn sâu thẳm và sự chiêm nghiệm cay đắng. Anh Lực, dù nỗi đau vẫn còn hằn sâu trong trái tim, đã tìm thấy một chút bình yên trong việc mang lại công bằng cho Chị Hạnh và con gái nhỏ. Anh Lực hiểu rằng, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà đôi khi nó lại là khởi đầu cho một sự thật cần được tiết lộ, một công lý cần được thực thi.
Cuộc sống vẫn tiếp diễn, nhưng không ai trong làng có thể quên đi những gì đã xảy ra. Cái chết của Chị Hạnh và con gái nhỏ đã trở thành một bài học nghiệt ngã về lòng tham, sự đố kỵ và những góc khuất tăm tối trong tâm hồn con người. Bà con trong làng nhìn nhau với ánh mắt khác, thận trọng hơn, nhưng cũng bao dung hơn. Họ học được rằng, ẩn sâu dưới vẻ ngoài bình dị có thể là những toan tính độc ác, và sự tin tưởng cần được đặt đúng chỗ. Nhưng trên tất cả, sự kiện bi thảm này cũng khơi dậy trong họ một tình làng nghĩa xóm sâu sắc hơn, một sự đồng cảm mạnh mẽ hơn với nỗi đau của người khác. Họ cùng nhau vượt qua nỗi sợ hãi, cùng nhau hàn gắn những vết thương, và cùng nhau hy vọng vào một tương lai nơi ánh sáng của sự thật sẽ luôn chiến thắng bóng tối. Dù vết sẹo của quá khứ sẽ không bao giờ lành hẳn, nhưng nó nhắc nhở mọi người về giá trị của sự sống, của tình yêu thương, và về sức mạnh kiên cường của con người khi đối mặt với nghịch cảnh.
Con gái 20 tuổi y//êu ông chú ngoài 40, ngày về ra mắt, mẹ cô vừa nhìn thấy rể tương lai liền lao vào ôm chầm, hóa ra ông ấy chính là…
Tôi tên là Linh, hai mươi tuổi, sinh viên năm cuối ngành thiết kế. Bạn bè thường nói tôi già dặn hơn tuổi, chắc vì từ nhỏ đã sống với mẹ – một người phụ nữ đ/ộc th/ân đầy nghị lực. Bố tôi m//ất sớm, mẹ chưa từng t/ái h/ôn, suốt bao năm chỉ chăm chỉ làm việc để nuôi tôi khôn lớn.
Một lần tham gia dự án tình nguyện, tôi gặp anh Nam – người phụ trách đội kỹ thuật, hơn tôi hơn hai mươi tuổi. Anh hiền lành, chững chạc và nói chuyện sâu sắc đến lạ. Ban đầu tôi chỉ quý mến, nhưng càng tiếp xúc, tôi càng cảm thấy tim mình rung lên mỗi khi nghe giọng anh.
Anh Nam từng trải, có công việc ổn định, từng trải qua đ/ổ v/ỡ hô/n n/hân nhưng chưa có con. Anh không nói nhiều về quá khứ, chỉ bảo: “Anh từng đ/ánh m/ất một điều quý giá, giờ chỉ mong được sống tử tế.”
Tình cảm giữa tôi và anh đến nhẹ nhàng, không ồn ào. Anh luôn đối xử với tôi như nâng niu một điều gì đó mong manh, cẩn trọng và chân thành. Tôi biết nhiều người xung quanh bàn tán – “Con bé đó yêu đàn ông hơn mình hai chục tuổi sao chịu nổi” – nhưng tôi chẳng bận tâm. Với tôi, anh là người khiến tôi cảm thấy bình yên nhất.
Một ngày, anh nói:
– Anh muốn gặp mẹ em. Anh không muốn gi//ấu g//iếm hay m//ập m//ờ nữa.
Tôi ngập ngừng. Mẹ tôi vốn ngh/iêm khắc, lại hay lo xa. Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu tình yêu này là thật, thì không có gì phải s//ợ.
Ngày hôm đó, tôi đưa anh về. Anh mặc chiếc sơ mi trắng, tay cầm bó hoa cúc dại – loài hoa tôi từng kể là mẹ rất thích. Tôi nắm chặt tay anh khi bước qua cánh cổng nhà cũ kỹ. Mẹ đang tưới cây, quay lại nhìn chúng tôi.
Giây phút ấy… bà bỗng sữ//ng s//ờ.
Rồi, trước khi tôi kịp giới thiệu, mẹ buông bình tưới, chạy đến ôm chầm lấy anh Nam, nước mắt tuôn như mưa.
– Trời ơi… là anh thật sao? Anh Nam… đọc tiếp dưới bình luận
Con gái 20 tuổi y//êu ông chú ngoài 40, ngày về ra mắt, mẹ cô vừa nhìn thấy rể tương lai liền lao vào ôm chầm, hóa ra ông ấy chính là…
Tôi tên là Linh, hai mươi tuổi, sinh viên năm cuối ngành thiết kế. Bạn bè thường nói tôi già dặn hơn tuổi, chắc vì từ nhỏ đã sống với mẹ – một người phụ nữ độc thân đầy nghị lực. Bố tôi mất sớm, mẹ chưa từng tái hôn, suốt bao năm chỉ chăm chỉ làm việc để nuôi tôi khôn lớn.
Một lần tham gia dự án tình nguyện, tôi gặp anh Nam – người phụ trách đội kỹ thuật, hơn tôi hơn hai mươi tuổi. Anh hiền lành, chững chạc và nói chuyện sâu sắc đến lạ. Ban đầu tôi chỉ quý mến, nhưng càng tiếp xúc, tôi càng cảm thấy tim mình rung lên mỗi khi nghe giọng anh.
Anh Nam từng trải, có công việc ổn định, từng trải qua đổ vỡ hôn nhân nhưng chưa có con. Anh không nói nhiều về quá khứ, chỉ bảo: “Anh từng đánh mất một điều quý giá, giờ chỉ mong được sống tử tế.”
Tình cảm giữa tôi và anh đến nhẹ nhàng, không ồn ào. Anh luôn đối xử với tôi như nâng niu một điều gì đó mong manh, cẩn trọng và chân thành. Tôi biết nhiều người xung quanh bàn tán – “Con bé đó yêu đàn ông hơn mình hai chục tuổi sao chịu nổi” – nhưng tôi chẳng bận tâm. Với tôi, anh là người khiến tôi cảm thấy bình yên nhất.
Một ngày, anh nói:
– Anh muốn gặp mẹ em. Anh không muốn giấu giếm hay mập mờ nữa.
Tôi ngập ngừng. Mẹ tôi vốn nghiêm khắc, lại hay lo xa. Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu tình yêu này là thật, thì không có gì phải sợ.
Ngày hôm đó, tôi đưa anh về. Anh mặc chiếc sơ mi trắng, tay cầm bó hoa cúc dại – loài hoa tôi từng kể là mẹ rất thích. Tôi nắm chặt tay anh khi bước qua cánh cổng nhà cũ kỹ. Mẹ đang tưới cây, quay lại nhìn chúng tôi.
Giây phút ấy… bà bỗng sững sờ.
Rồi, trước khi tôi kịp giới thiệu, mẹ buông bình tưới, chạy đến ôm chầm lấy anh Nam, nước mắt tuôn như mưa.
– Trời ơi… là anh thật sao? Anh Nam…
Tôi chết lặng. Còn anh Nam cũng đứng sững, mắt đỏ hoe:
– Em… là Hòa sao?
Tôi hoang mang nhìn hai người. Họ biết nhau ư? Mẹ tôi nghẹn ngào:
– Hai mươi năm rồi… anh vẫn còn sống ư?
Câu chuyện dần hé mở.
Thì ra, trước khi gặp bố tôi, mẹ từng có một người yêu đầu – chính là anh Nam. Năm đó, họ yêu nhau say đắm, nhưng một vụ tai nạn đã khiến anh mất tích, được báo là “đã tử vong”. Mẹ đau khổ suốt một thời gian dài, rồi sau đó gặp bố tôi – người đã sưởi ấm trái tim bà. Họ cưới nhau, sinh ra tôi. Nhưng chỉ vài năm sau, bố mất vì bạo bệnh.
Còn anh Nam thì năm ấy may mắn sống sót, nhưng bị thương nặng, mất trí nhớ tạm thời. Khi tỉnh lại, anh trôi dạt đến miền khác, được người tốt cứu giúp. Anh không nhớ nổi tên mình, chỉ giữ lại ký ức mơ hồ về “một người con gái thích hoa cúc dại”.
Khi gặp tôi trong dự án tình nguyện, anh bảo cảm giác quen thuộc lạ lùng, nhưng không hiểu vì sao. Tôi lại trùng tên với mẹ – tên Linh vốn là tên đệm của bà ngày xưa. Có lẽ định mệnh đã đưa anh trở lại, chỉ là theo cách trớ trêu hơn.
Tôi nghẹn ngào nhìn họ.
– Vậy… nghĩa là hai người từng…
Mẹ gật đầu, mắt vẫn ướt:
– Nhưng con yên tâm, chúng ta không có quan hệ máu mủ gì cả. Chỉ là… mẹ không ngờ người đàn ông con yêu lại chính là người mẹ từng yêu năm xưa.
Không khí lặng đi. Tôi cảm nhận rõ trái tim mình rối bời. Còn anh Nam, sau một hồi im lặng, khẽ nói:
– Linh à, anh xin lỗi. Anh không thể ngờ mọi chuyện lại thế này. Anh chưa từng muốn làm ai tổn thương.
Tối đó, tôi ngồi ngoài hiên. Mẹ bước đến, đặt tay lên vai tôi:
– Con à, tình yêu không có lỗi. Nhưng đôi khi, định mệnh sắp đặt để nhắc ta hiểu rằng, có những người chỉ nên gặp lại để tha thứ, chứ không phải để ở bên.
Nước mắt tôi rơi, không vì hận, mà vì thương. Tôi biết, tình cảm mình dành cho anh là thật, nhưng chẳng thể tiếp tục.
Vài tháng sau, anh Nam rời thành phố, để lại lá thư:
“Cảm ơn em đã cho anh được cảm nhận tình yêu một lần nữa. Gặp lại mẹ em, anh như tìm thấy phần quá khứ đã mất. Anh tin, dù không thể là người ở bên em, anh vẫn mãi biết ơn vì em đã bước vào cuộc đời anh – dịu dàng như một phép màu.”
Mẹ tôi cất lá thư ấy vào hộp gỗ, đặt cạnh di ảnh của bố. Bà bảo: “Đôi khi, ân oán hay duyên nợ không đến để ràng buộc, mà để giúp ta buông bỏ.”
Nhiều năm sau, tôi trở thành nhà thiết kế. Mỗi lần nhìn thấy hoa cúc dại, tôi vẫn nhớ về anh Nam – người đàn ông từng khiến tim tôi rung động, nhưng cũng dạy tôi bài học lớn nhất:
“Tình yêu chân thành không phải lúc nào cũng đi cùng kết thúc trọn vẹn. Nhưng nếu giữ được sự tôn trọng và tử tế, nó vẫn là một điều đẹp đẽ suốt đời.”
HỌP LỚP SAU 10 NĂM, ANH VẪN NHỚ LỜI HỨA CỦA CÔ BÉ NĂM XƯA
Tiếng nhạc nhẹ vang lên trong hội trường của trường cấp ba cũ.
Mười năm sau ngày tốt nghiệp.
Nga đứng trước cánh cổng quen thuộc, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác bồi hồi khó tả.
Những hàng phượng vẫn còn đó.
Sân trường vẫn ngập nắng như ngày nào.
Chỉ có những cô cậu học trò năm ấy giờ đều đã trưởng thành.
Nga khẽ mỉm cười.
Cô năm nay hai mươi tám tuổi, là giáo viên tiểu học. Cuộc sống bình yên nhưng chưa từng yêu ai đủ sâu để nghĩ đến chuyện kết hôn.
Bạn bè vẫn hay trêu:
– “Tiêu chuẩn của cậu cao quá.”
Nga chỉ cười.
Không ai biết trong lòng cô luôn có một hình bóng đã ở đó từ rất lâu.
Là Tuân.
Hơn cô hai khóa.
Ngày ấy anh là học sinh nổi tiếng nhất trường.
Học giỏi.
Đẹp trai.
Đội trưởng đội bóng rổ.
Lại còn rất dịu dàng.
Còn cô chỉ là cô bé lớp mười vừa vào trường, đeo chiếc kính cận to, lúc nào cũng ôm sách.
Hai người vốn chẳng có gì liên quan.
Cho đến một buổi chiều mưa.
Nga trượt chân ở cầu thang, sách vở rơi tung tóe.
Một bàn tay chìa ra trước mặt.
– “Đứng dậy nào.”
Là Tuân.
Anh cúi xuống nhặt từng quyển sách, còn cẩn thận lau sạch nước mưa bám trên bìa.
Hôm ấy anh còn đưa cô về tận cổng trường.
Trước khi đi còn xoa nhẹ lên đầu cô.
– “Lần sau đi cẩn thận nhé, cô bé.”
Từ hôm đó.
Mỗi lần gặp nhau trong sân trường, Tuân đều cười rồi xoa đầu cô như một cô em gái.
Nga thì mỗi lần như vậy lại đỏ mặt đến tận mang tai.
Một lần.
Trong buổi văn nghệ.
Nga bị đám bạn trêu.
– “Nga thích anh Tuân đúng không?”
Cô bé mới mười sáu tuổi chẳng biết giấu cảm xúc.
Ngẩng đầu nhìn anh rồi nói thật to.
– “Lớn lên em sẽ lấy anh làm chồng.”
Cả sân trường cười ồ.
Tuân cũng bật cười.
Anh chỉ đưa tay xoa đầu cô.
– “Được. Vậy anh chờ cô bé lớn.”
Rồi sau đó…
Anh tốt nghiệp.
Đi du học.
Hai người hoàn toàn mất liên lạc.
…
“Nga!”
Tiếng gọi kéo cô trở về hiện tại.
Bạn bè cũ ùa tới.
Ai cũng thay đổi.
Có người đã có hai con.
Có người chuẩn bị sinh em bé.
Tiếng cười nói rộn ràng khắp căn phòng.
Nga vừa ngồi xuống thì cửa hội trường mở ra.
Một người đàn ông mặc sơ mi trắng bước vào.
Dáng người cao ráo.
Khuôn mặt trưởng thành hơn nhiều.
Nhưng nụ cười ấy…
Vẫn giống hệt mười năm trước.
Nga sững người.
Là Tuân.
Tim cô đập mạnh đến mức tưởng như mọi người đều nghe thấy.
Anh cũng nhìn thấy cô.
Chỉ mất vài giây.
Anh mỉm cười rồi bước thẳng về phía cô.
Mọi người còn chưa kịp chào hỏi thì anh đã đứng trước mặt Nga.
Không nói gì.
Chỉ nhẹ nhàng đưa tay…
Xoa đầu cô.
Đúng động tác quen thuộc của mười hai năm trước.
Nga mở to mắt.
Cả người như hóa đá.
Tuân cười rất khẽ.
Giọng nói trầm hơn trước rất nhiều.
– “Thế nào…”
Anh hơi cúi xuống nhìn cô.
– “Còn muốn lấy anh làm chồng không, cô bé?”
Không gian bỗng im phăng phắc.
Đám bạn đang nói chuyện cũng đồng loạt quay sang.
Nga thì ngẩn người.
Đầu óc trống rỗng.
Cô không ngờ…
Một câu nói trẻ con năm mười sáu tuổi…
Anh vẫn còn nhớ.
Khóe mắt cô bỗng cay cay.
Tuân bật cười.
– “Anh tưởng em quên rồi.”
Nga lắp bắp.
– “Anh… anh còn nhớ thật sao?”
Anh gật đầu.
– “Sao lại quên được.”
Anh nhìn sân trường ngoài cửa sổ.
Ánh mắt dịu dàng.
– “Đó là lần đầu tiên có người nghiêm túc nói muốn lấy anh làm chồng.”
Cả đám bạn phá lên cười.
Một người trêu:
– “Trời đất! Hai người giữ lời hứa hơn mười năm luôn hả?”
Tuân chỉ cười.
Rồi rất tự nhiên kéo ghế ngồi cạnh Nga.
Như thể vị trí ấy vốn dĩ luôn thuộc về anh.
Nga len lén nhìn người đàn ông bên cạnh.
Bàn tay anh vẫn rộng.
Giọng nói vẫn ấm.
Chỉ là trưởng thành hơn rất nhiều.
Cô bỗng nhớ lại những buổi chiều tan học.
Nhớ cái xoa đầu dịu dàng.
Nhớ lời hứa vu vơ năm ấy.
Cô cứ nghĩ…
Mình là người duy nhất còn nhớ.
Không ngờ…
Có một người còn nhớ rõ hơn cả cô.
Và có lẽ…
Mười năm qua.
Không chỉ riêng mình cô chưa từng quên.
Bữa họp lớp hôm ấy bỗng trở nên náo nhiệt hơn bao giờ hết.
Đám bạn cũ chẳng còn ai để ý đến chương trình trên sân khấu. Mọi ánh mắt đều hướng về Nga và Tuân.
Một cậu bạn cười lớn:
– Hai người định giấu cả lớp yêu nhau từ hồi đi học à?
Nga đỏ bừng mặt, vội xua tay.
– Không có đâu!
Tuân chống cằm nhìn cô, khóe môi cong lên.
– Đúng là chưa yêu.
Anh cố ý ngừng lại vài giây rồi nói tiếp:
– Vì ngày đó cô bé còn nhỏ quá.
Tiếng hò reo vang khắp căn phòng.
Nga cúi gằm mặt, tim đập loạn xạ.
Ngày còn học cấp ba, cô từng nghĩ sau khi Tuân đi du học, anh sẽ nhanh chóng quên cô. Còn cô cũng sẽ lớn lên, rồi một ngày nào đó quên đi mối cảm nắng đầu đời.
Nhưng hóa ra… cả hai đều không làm được.
Buổi tiệc kết thúc khá muộn.
Khi mọi người lần lượt ra về, Tuân chủ động bước đến bên Nga.
– Anh đưa em về nhé?
Nga khẽ gật đầu.
Hai người sóng vai bước trên con đường trước cổng trường.
Đêm mùa hè dịu mát.
Những hàng cây vẫn như mười năm trước.
Có điều, cô bé ngày nào giờ đã trở thành một cô gái dịu dàng, còn chàng trai năm ấy đã mang dáng vẻ chững chạc của một người đàn ông ba mươi tuổi.
Một lúc lâu, cả hai đều im lặng.
Cuối cùng, Tuân lên tiếng.
– Em biết không… hôm nay anh hồi hộp hơn cả ngày bảo vệ luận văn.
Nga bật cười.
– Anh mà cũng biết hồi hộp sao?
– Có chứ.
Anh nhìn cô.
– Anh sợ em không đến.
– Sợ em không nhớ anh.
– Sợ… em đã có người yêu.
Nga khựng bước.
– Anh… nghĩ nhiều vậy sao?
Tuân cười nhẹ.
– Mười năm không gặp, điều gì cũng có thể xảy ra.
Nga cúi đầu.
– Em chưa từng yêu ai.
Tuân quay sang nhìn cô.
– Thật à?
Nga mỉm cười.
– Không biết nữa.
– Chỉ là… mỗi lần có ai theo đuổi, em lại vô thức đem người đó ra so sánh với một người.
– Người ấy từng giúp em nhặt sách.
– Từng che ô cho em.
– Từng xoa đầu em mỗi lần gặp.
– Và từng cười rất đẹp.
Tuân đứng lặng.
Ánh mắt anh bỗng dịu đi.
– Anh cũng vậy.
Nga ngạc nhiên.
Anh chậm rãi kể.
Sau khi sang nước ngoài, cuộc sống học tập rất bận rộn.
Bạn bè từng giới thiệu cho anh rất nhiều cô gái.
Nhưng lần nào cũng vậy.
Mỗi khi ai đó hỏi mẫu người lý tưởng của anh là gì.
Trong đầu anh lại hiện lên hình ảnh một cô bé đeo kính, ôm chồng sách còn nghiêm túc tuyên bố:
“Lớn lên em sẽ lấy anh làm chồng.”
Anh từng nghĩ đó chỉ là một câu nói trẻ con.
Nhưng không hiểu sao…
Anh lại nhớ mãi.
Có lần dọn phòng ký túc xá, anh còn tìm thấy một chiếc móc khóa hình ngôi sao.
Là món quà Nga từng lén đặt vào ngăn bàn của anh trước ngày anh tốt nghiệp.
Mặt sau còn viết nguệch ngoạc:
“Anh Tuân cố lên nha.”
Chiếc móc khóa ấy theo anh suốt mười năm.
Đến cả khi đổi xe, anh vẫn giữ.
Nga che miệng.
– Anh… vẫn còn giữ sao?
Tuân lấy chùm chìa khóa trong túi quần.
Chiếc ngôi sao nhỏ đã cũ, lớp sơn bong gần hết.
Nhưng vẫn được treo ngay vị trí dễ nhìn nhất.
Nga nhìn nó, nước mắt bất giác rơi xuống.
Mười năm.
Có những thứ tưởng chừng chẳng đáng giá.
Nhưng với người thật lòng, lại trở thành báu vật.
Tuân nhẹ nhàng lau giọt nước mắt nơi khóe mắt cô.
– Đừng khóc.
– Em khóc là anh không biết dỗ đâu.
Nga bật cười trong nước mắt.
– Anh vẫn vụng về như xưa.
– Nhưng lần này…
Anh hít một hơi thật sâu.
– Anh không muốn bỏ lỡ nữa.
Anh bước lùi lại một bước, nhìn thẳng vào mắt cô.
– Nga.
– Ngày em nói sẽ lấy anh làm chồng, anh chỉ nghĩ đó là lời nói của một cô bé.
– Nhưng sau này anh mới nhận ra…
– Người không lớn lên được chính là anh.
– Vì trái tim anh cứ mãi ở lại sân trường này.
– Ở cái ngày có một cô bé nhìn anh bằng ánh mắt trong veo nhất.
Nga cắn môi.
Đôi mắt đỏ hoe.
Tuân lấy từ trong túi áo một chiếc hộp nhung nhỏ.
Không phải nhẫn kim cương lấp lánh.
Chỉ là một chiếc nhẫn bạc rất giản dị.
Anh cười.
– Anh không định cầu hôn hôm nay.
– Nhưng lúc gặp em…
Anh biết mình không muốn chờ thêm nữa.
Anh mở chiếc hộp.
– Nga.
– Mười năm trước em hỏi anh có chờ không.
– Bây giờ đến lượt anh hỏi.
– Em…
– Có còn muốn lấy anh làm chồng không?
Nga bật khóc.
Lần này, cô không trả lời ngay.
Mà tiến đến ôm lấy anh thật chặt.
Giọng cô nghẹn ngào.
– Em tưởng…
– Chỉ có mình em nhớ.
Tuân vòng tay ôm lấy cô.
– Anh nhớ nhiều hơn em nghĩ.
– Anh chỉ tiếc…
– Đã để em chờ quá lâu.
Đúng lúc ấy, phía sau vang lên tiếng vỗ tay.
Hai người giật mình quay lại.
Hóa ra cả lớp chưa ai về.
Tất cả đều đứng phía sau, cười tươi nhìn hai người.
Một cô bạn lau nước mắt.
– Biết ngay mà!
– Nãy giờ tụi này đứng xem hết rồi.
Cả nhóm đồng thanh hô lớn:
– Hôn đi! Hôn đi!
Nga xấu hổ đến mức trốn luôn sau lưng Tuân.
Còn Tuân chỉ cười, một lần nữa dịu dàng xoa đầu cô như mười hai năm trước.
Anh nói đủ lớn để tất cả cùng nghe:
– Cảm ơn cô bé năm ấy đã đủ dũng cảm nói một câu mà anh chẳng bao giờ quên.
– Nếu ngày đó em không nói…
– Có lẽ anh đã đánh mất người con gái mình yêu nhất.
Nga ngước lên nhìn anh.
– Thế sau này…
– Anh còn xoa đầu em nữa không?
Tuân bật cười.
– Còn.
– Nhưng chỉ khi em là vợ anh.
Tiếng cười và tiếng vỗ tay vang khắp sân trường.
Những cánh phượng đỏ khẽ rơi trong làn gió đêm.
Mười năm trước, một lời hứa ngây ngô đã gieo vào lòng hai người một hạt mầm.
Mười năm sau, họ gặp lại đúng nơi mọi chuyện bắt đầu.
Lần này, không còn là lời hứa của cô bé mười sáu tuổi.
Mà là lời hẹn ước của hai người trưởng thành, sau một quãng thanh xuân đủ dài để hiểu rằng, có những mối duyên chỉ cần còn nhớ về nhau thì dù thời gian có trôi qua bao lâu, cuối cùng vẫn sẽ tìm được đường quay trở lại.
Tôi là bác sĩ 44 tuổi khám cho người đàn ông 52 tuổi, chỉ một câu nói của bệnh nhân khiến chúng tôi nên duyên theo cách không ai ngờ tới…
Tôi là Lan, 44 tuổi, bác sĩ nội khoa. Người đời vẫn nghĩ bác sĩ là những người mạnh mẽ, nhưng thật ra chúng tôi cũng mệt mỏi và mong được ai đó nắm tay như bao người khác.
Tôi từng ly hôn khi 35 tuổi. Sau đó, tôi vùi mình vào công việc. Mỗi ngày khám hàng chục bệnh nhân, nhìn thấy họ đau – tôi quên mất rằng mình cũng có một trái tim dễ tổn thương.
Trong gần 10 năm, bệnh viện là nhà, bệnh nhân là người thân duy nhất. Tôi cứ nghĩ đời mình sẽ trôi lặng như thế đến khi già.
Cho đến hôm đó.
Khoảng 7h tối, phòng khám chỉ còn vài bệnh nhân cuối. Tôi đã mệt rã rời. Y tá gọi nhỏ:
– Bác sĩ Lan, còn một bệnh nhân nữa thôi ạ. Ông ấy bảo khó thở, đến muộn.
Tôi gật đầu.
Người đàn ông bước vào. Ông khoảng hơn 50 tuổi, dáng cao, mái tóc hoa râm gọn gàng, gương mặt hiền nhưng ánh mắt lại buồn sâu. Ông nói giọng trầm, hơi khàn:
– Xin lỗi bác sĩ, tôi đến trễ.
– Không sao ạ. Mời anh ngồi.
Tôi đo huyết áp cho ông. Ổn. Đo nhịp tim. Hơi nhanh. Tôi hỏi:
– Anh thấy khó thở lâu chưa?
Ông mỉm cười, nhẹ như gió:
– Cả buổi chiều nay. Nhưng chỉ khi một mình.
Tôi ngẩng lên.
Ông tiếp:
– À… không phải bệnh nặng gì đâu. Tôi nghi là… Xem tiếp dưới bình luận
Tôi khựng lại, đôi tay đang cầm ống nghe bỗng chốc trở nên lúng túng. Trong suốt gần hai mươi năm làm nghề y, tôi đã nghe đủ mọi cung bậc hỉ nộ ái ố, từ những tiếng than vãn vì cơn đau thể xác đến những lời trăng trối xé lòng. Nhưng câu nói của người đàn ông 52 tuổi này lại mang một tần số lạ lùng, nó không giống một lời khai bệnh, mà giống như một lời tự sự muộn màng.
Ông tiếp tục, giọng vẫn trầm và khàn như tiếng lá khô chạm đất:
– Tôi nghi là… tôi bị “bệnh vắng người”. Căn nhà rộng quá, mà tiếng kim đồng hồ thì lại quá to. Chiều nay, khi ngồi nhìn nắng tắt dần trên ô cửa sổ, tôi bỗng thấy lồng ngực mình thắt lại. Tôi đến đây không phải vì cần thuốc, mà vì tôi cần một hơi người, cần một ai đó xác nhận rằng tôi vẫn đang tồn tại.
Tôi nhìn sâu vào mắt ông. Đó là đôi mắt của một người đã đi qua đủ giông bão để biết trân trọng sự bình yên, nhưng cũng là đôi mắt chứa đựng một sự cô độc mênh mông. Tôi đặt ống nghe xuống, khẽ thở dài, rũ bỏ cái vẻ chuyên nghiệp lạnh lùng thường ngày.
– Anh tên gì? – Tôi hỏi, giọng dịu lại.
– Tôi tên Quân. Còn bác sĩ… bác sĩ Lan đúng không? Biển tên của cô hơi lệch một chút.
Tôi đưa tay chỉnh lại bảng tên trên ngực áo, lòng bỗng dâng lên một cảm giác xao động khó tả. Buổi tối hôm đó, thay vì kết thúc ca làm việc lúc 7h30 như thường lệ, tôi đã ngồi lại với ông Quân đến tận gần 9h. Chúng tôi không nói về bệnh lý, về huyết áp hay nhịp tim. Chúng tôi nói về những mùa đông cô đơn ở thành phố này, về những bữa cơm một mình và về cái giá của sự trưởng thành.
Những tâm hồn đồng điệu
Hóa ra, ông Quân cũng là một người “sót lại” sau một cuộc hôn nhân tan vỡ từ mười lăm năm trước. Vợ ông định cư ở nước ngoài cùng các con, còn ông chọn ở lại với mảnh đất này, với xưởng gỗ thủ công và những con chữ. Ông là một nghệ nhân đóng đồ gỗ, bàn tay ông chai sần nhưng những ngón tay lại rất thanh mảnh – đôi bàn tay của một người duy mỹ.
Sau buổi tối hôm đó, ông Quân không còn đến phòng khám với tư cách bệnh nhân nữa. Nhưng cứ cách vài ngày, vào giờ tan sở, tôi lại thấy bóng dáng cao gầy với mái tóc hoa râm đứng đợi dưới tán cây bàng già trước cổng bệnh viện.
Ông không tặng hoa hồng rực rỡ, cũng không dùng những lời lẽ sáo rỗng. Khi thì ông đưa cho tôi một hộp trà dưỡng nhan tự tay ông cắt thảo mộc, khi thì là một chiếc giá đỡ điện thoại bằng gỗ hương thơm phức do ông tự đẽo gọt.
– Bác sĩ hay phải trực đêm, uống chút trà này cho dễ ngủ. – Ông nói, ánh mắt luôn giữ một khoảng cách lịch sự nhưng đầy quan tâm.
Tôi, một người phụ nữ 44 tuổi vốn đã đóng băng trái tim mình sau cuộc hôn nhân cũ, bỗng thấy mình như mầm cây khô gặp mưa rào. Ở tuổi của chúng tôi, tình yêu không còn là những cuồng nhiệt nông nổi, mà là sự thấu hiểu. Chúng tôi không cần thề non hẹn biển, chỉ cần một người biết rõ vì sao hôm nay mình mệt, vì sao hôm nay mắt mình lại có quầng thâm.
Biến cố và phép thử
Tình cảm ấy cứ lớn dần một cách lặng lẽ cho đến một đêm mưa tầm tã của sáu tháng sau. Tôi nhận được điện thoại từ số của ông Quân, nhưng đầu dây bên kia là giọng của một người thợ ở xưởng gỗ:
– Chị Lan bác sĩ phải không? Anh Quân bị tai nạn ở xưởng, máy cắt vào tay, mất máu nhiều lắm… anh ấy đang được đưa vào cấp cứu ở bệnh viện chị!
Tim tôi như rụng rời. Tôi vơ vội chiếc áo blouse, chạy như điên xuống phòng cấp cứu. Khi nhìn thấy ông nằm trên băng ca, gương mặt tái nhợt vì mất máu, bàn tay trái quấn băng trắng xóa thấm đỏ, tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi chưa từng có trong đời. Tôi sợ mất đi “liều thuốc” duy nhất đã chữa lành tâm hồn mình.
Chính tay tôi đã đứng phụ mổ cho ông đêm đó. Khi cầm dụng cụ y tế, tôi không cho phép mình run rẩy, nhưng nước mắt cứ chực trào ra dưới lớp khẩu trang.
Ca phẫu thuật thành công, nhưng bác sĩ ngoại khoa lắc đầu bảo tôi: – Gân tay bị tổn thương nặng, sau này có lẽ anh ấy không thể làm mộc tinh xảo được nữa.
Đối với một người nghệ nhân, đôi tay là linh hồn. Tôi lo lắng không biết ông sẽ đối mặt với sự thật này thế nào.
Một cái kết không ai ngờ tới
Ngày ông Quân tỉnh dậy, tôi ngồi bên cạnh, nắm lấy bàn tay không bị thương của ông. Tôi ngập ngừng kể cho ông nghe về tình trạng của vết thương. Tôi chuẩn bị tâm lý để nghe ông than vãn hoặc nhìn thấy sự tuyệt vọng.
Nhưng ông Quân chỉ mỉm cười, một nụ cười còn xanh xao nhưng cực kỳ bình thản. Ông nhìn tôi, khẽ nói:
– Lan này, anh đã dành nửa đời người để đẽo gọt những khúc gỗ vô tri thành hình hài đẹp đẽ. Có lẽ ông trời muốn anh dừng lại, để anh dùng nửa đời còn lại chăm sóc cho một “nhành hoa” đang héo úa vì làm việc quá sức là em.
Tôi khóc, những giọt nước mắt hạnh phúc của người phụ nữ tuổi 44. Ông tiếp tục bằng một giọng hóm hỉnh:
– Với lại, tay anh không cầm được đục nữa, nhưng vẫn cầm được tay em đi dạo mỗi chiều mà, đúng không?
Và thế là, chúng tôi nên duyên. Đám cưới của bác sĩ Lan và nghệ nhân Quân diễn ra giản dị tại một căn nhà vườn ngoại ô. Không có hàng trăm khách mời, không có nhạc hội ồn ào. Chỉ có vài người bạn già và mùi thơm của hoa bưởi.
Điều không ai ngờ tới nhất là sau khi cưới, ông Quân không hề từ bỏ đam mê. Với sự hỗ trợ và kiến thức y khoa của tôi về phục hồi chức năng, ông đã tự thiết kế ra những công cụ hỗ trợ cho người khuyết tật vận động bàn tay. Chúng tôi cùng nhau mở một trung tâm nhỏ ngay tại nhà – nơi tôi khám bệnh miễn phí cho người nghèo, còn ông dạy họ cách làm những món đồ thủ công đơn giản để mưu sinh.
Một câu nói “khó thở vì vắng người” năm ấy đã mở ra một trang đời mới. Chúng tôi nhận ra rằng: Tình yêu không bao giờ là quá muộn, và vết thương đôi khi lại là cách mà ánh sáng len lỏi vào tâm hồn ta.
Giờ đây, mỗi buổi chiều tan ca, tôi không còn cảm thấy mệt mỏi. Bởi tôi biết, ở căn nhà có mùi gỗ thơm ấy, luôn có một người đàn ông tóc hoa râm đợi tôi bên mâm cơm nóng hổi, và chúng tôi sẽ cùng nhau chữa trị cho nhau căn bệnh “vắng người” mãi mãi về sau.
Khi phụ nữ vướng vào mṓi quan hệ ngoài ʟuṑng, họ sẽ có những dấu hiệu rõ ràng ⱪhȏng thể chṓi cãi.
Hầu hḗt các ᵭȏi ⱪhȏng bao giờ tưởng tượng tình yêu ⱪḗt thúc vì ⱪhȏng chung thủy. Nhưng sự thật ʟà gian dṓi có thể rung chuyển cuộc hȏn nhȃn hạnh phúc nhất.
“Xã hội thường quan niệm rằng ᵭàn ȏng mới ʟà những ⱪẻ gian ʟận, ᵭàn ȏng dễ ʟừa dṓi, nhưng dữ ʟiệu nghiên cứu ⱪể một cȃu chuyện ⱪhác”, Alicia M. Walker, phó giáo sư xã hội học tại ĐH bang Missouri, Mỹ, nói và ⱪhẳng ᵭịnh tỷ ʟệ ʟừa dṓi bạn ᵭời của phụ nữ tương ᵭương nam giới.
Vị này cho rằng, người vợ ʟừa dṓi chṑng ⱪhȏng phải chuyện dị thường. Tùy thuộc vào nhóm tuổi, hành vi, ᵭȏi ⱪhi phụ nữ ʟừa dṓi thường xuyên hơn cả ᵭàn ȏng.
Có nhiḕu ʟý do ⱪhiḗn phụ nữ ʟừa dṓi. Các ȏng chṑng cũng vậy. Cȏ ᵭơn, buṑn chán và rượu có thể ᵭóng vai trò quan trọng. Đȏi ⱪhi, tình ᵭṑng nghiệp thȃn thiḗt bị ᵭưa ᵭi quá xa trong suṓt một ᵭêm dài tại văn phòng. Những ʟần ⱪhác, bạn ᵭời ⱪhȏng chung thủy ⱪhiḗn trái tim người phụ nữ có một ⱪhoảng trṓng ʟớn, muṓn ᵭược ʟấp ᵭầy.
Một sṓ phụ nữ ngoại tình ᵭể ᵭỡ nhàm chán. Những người ⱪhác ʟừa dṓi vì cảm thấy bị bỏ rơi. Tuy nhiên, một sṓ người nói họ ngoại tình chỉ vì họ muṓn thḗ. Theo Walker, những ʟý do ⱪhȏng chung thủy rất phức tạp và ⱪhȏng cụ thể trong một cuộc hȏn nhȃn.
Khi phụ nữ ʟừ a d ṓi, sẽ 3 thứ ngày càng “to ra”:
Tính tình ngày càng ʟớn
Đṓi với phụ nữ mà nói, ai chẳng muṓn có một ai ᵭó ᵭể dựa vào, trái tim của phụ nữ ⱪhȏng ʟớn như vậy, tất cả những gì họ cần ʟà ᵭược yêu thương, và ᵭàn ȏng chính ʟà ᵭiểm tựa, ʟà chỗ dựa ʟớn nhất của họ.
Phụ nữ ⱪhi ᵭḗn tuổi trung niên, nḗu chưa từng ngoại tình thì nhất ᵭịnh phải nghĩ ᵭḗn người ᵭàn ȏng của mình, bởi người ᵭàn ȏng này ʟà chỗ dựa.
Nhưng một ⱪhi ᵭàn bà ᵭã ⱪhȏng chung thủy, ⱪhi tranh cãi với ᵭàn ȏng, họ ⱪhȏng còn nghĩ ᵭḗn việc người ᵭàn ȏng ᵭó tṓt như thḗ nào, mà họ nhất ᵭịnh ⱪhȏng chịu nhỏ giọng.
Khi gặp vấn ᵭḕ, suy nghĩ phổ biḗn nhất ʟà chṑng mình ⱪhȏng tṓt bằng người ⱪhác, chṑng ⱪhȏng yêu thương mình, sṓng với người như vậy thật ʟà bất hạnh.
Vì vậy, ⱪhi gặp mȃu thuẫn, dù ᵭàn ȏng có chủ ᵭộng cúi ᵭầu nhường bước, họ cũng sẽ giở trò nhỏ nhen, ⱪhȏng muṓn tha thứ, thậm chí còn suy nghĩ xem có thể nhȃn cơ hội chia tay hay ⱪhȏng.
Dành nhiḕu năng ʟượng ʟớn cho các buổi hẹn hò và sao nhãng gia ᵭình
Nói chung, ᵭàn ȏng ⱪiḗm tiḕn nuȏi gia ᵭình, phụ nữ gánh vác gia ᵭình, mặc dù nhiḕu phụ nữ cũng có thể ᵭảm bảo tài chính ᵭộc ʟập và ⱪhȏng còn ʟà bà nội trợ, nhưng con gái dù sao cũng cẩn thận hơn ᵭàn ȏng.
Vì vậy, phụ nữ phải dành nhiḕu thời gian cho gia ᵭình hơn nam giới, ᵭặc biệt ʟà phụ nữ ở ᵭộ tuổi trung niên, ᵭó ʟà giai ᵭoạn quan trọng ⱪhi con cái và người già cần có người ʟo ʟắng.
Nhưng nḗu phụ nữ ⱪhȏng chung thủy, nghĩa ʟà trong thȃm tȃm họ nghĩ cần tận hưởng cuộc sṓng, ⱪhȏng còn nghĩ nhiḕu ᵭḗn cuộc sṓng gia ᵭình, sẽ dành nhiḕu thời gian hơn cho việc duy trì các mṓi quan hệ bên ngoài.
Do ᵭó, ⱪhi một người phụ nữ ngày càng ít dành thời gian cho gia ᵭình, thay vì trở vḕ nhà sau ⱪhi tan sở mỗi ngày, họ sẽ có nhiḕu bữa tiệc và nhiḕu hoạt ᵭộng ⱪhác nhau, thì vḕ cơ bản chắc chắn rằng cȏ ấy ⱪhȏng chung thủy.
Khoảng cách ngày càng ʟớn
Điểm mới nhất trong việc vun ᵭắp tình cảm vợ chṑng chính ʟà ᵭời sṓng vợ chṑng, ᵭời sṓng vợ chṑng có thể nói ʟà trung gian hòa giải của hȏn nhȃn, ⱪhi gặp tranh chấp, mȃu thuẫn, tình cảm thì ᵭời sṓng vợ chṑng có thể ᵭược giải quyḗt một cách hiệu quả trong vấn ᵭḕ “sinh hoạt vợ chṑng”.
Nhưng nḗu một người phụ nữ hoàn toàn ⱪhȏng muṓn chung sṓng như vợ chṑng với bạn, hoặc bḕ ngoài thì ᵭṑng ý nhưng ⱪhȏng bao giờ chủ ᵭộng hoặc phṓi hợp, ᵭiḕu ᵭó có nghĩa ʟà trong ʟòng cȏ ấy ᵭã ⱪhȏng còn bạn nữa.
Làm sao một người có thể ⱪhȏng có những nhu cầu bình thường ở tuổi trung niên? Chỉ có thể nói trong ʟòng cȏ ấy ᵭã có người ⱪhác, hoặc có những thứ ⱪhác có thể thỏa mãn cȏ ấy.
Vì vậy, nḗu bạn và người ấy ⱪhȏng còn mặn nṑng như vậy, ᵭời sṓng vợ chṑng ⱪhȏng hòa thuận, rất có thể ᵭṓi phương ᵭã ⱪhȏng chung thủy, thỏa mãn bên ngoài, vḕ ᵭḗn nhà cũng ⱪhȏng mong gần gũi bạn.
Nhiḕu phụ nữ nghĩ rằng chỉ cần họ giả vờ tṓt, ᵭàn ȏng sẽ ⱪhȏng phát hiện ra, nhưng sự ʟộ ʟiễu sớm muộn gì cũng sẽ ᵭḗn.
Hȏn nhȃn ʟà một gia ᵭình nhỏ mà hai người cùng nhau quản ʟý và cùng nhau xȃy dựng, nḗu ⱪhȏng thể ʟà một nửa chȃn thành thì nên chia tay và tìm một ᵭṓi tác mới, nḗu ⱪhȏng cuṓi cùng chỉ ʟàm tổn thương người ⱪhác và chính mình mà thȏi.
Có cȃu “Năm cȃy ma”, ʟà những ʟoại cȃy mà người xưa gắn cho một màu sắc huyḕn bí nào ᵭó dựa trên hình dáng, chức năng cũng như những truyḕn thuyḗt, cȃu chuyện dȃn gian.
Hơn nữa, năm cȃy ma này ⱪhȏng phải ʟà cȃy hiḗm, chúng rất phổ biḗn trong cuộc sṓng của chúng ta. Bạn có biḗt ᵭó ʟà năm cȃy nào ⱪhȏng? Đó ʟà năm ʟoại cȃy: cȃy ʟiễu, cȃy dȃu, cȃy hoa hoè (duong hoè), cȃy dương và cȃy xoan.
Kệ cây cảnh
Nghe có vẻ quen? Chúng có thể ᵭược tìm thấy ở mọi nơi trong tự nhiên và trong cuộc sṓng của chúng ta, vậy tại sao chúng ʟại ᵭược gọi chung ʟà “Năm cȃy ma”?
1. Cȃy ʟiễu
Cȃy ʟiễu hiện nay ʟà cȃy trṑng trên ᵭường phṓ rất phổ biḗn ở nhiḕu thành phṓ, ᵭặc biệt ʟà gần các hṑ và sȏng, nơi có sṓ ʟượng ʟớn cȃy ʟiễu ᵭược trṑng dọc theo bờ sȏng. Chỉ vì cȃy ʟiễu dễ sṓng, cành cũng duyên dáng, duyên dáng nên từ xa xưa ᵭã ᵭược vȏ sṓ văn nhȃn ca ngợi.
Tuy nhiên, trong dȃn gian, cȃy ʟiễu ⱪhȏng chỉ ᵭược gọi ʟà “cȃy rȃm mát” mà còn gắn ʟiḕn với một sṓ hàm ý xấu. Ví dụ, thời xa xưa có tục “trṑng cȃy ʟiễu trong dịp Tḗt Thanh minh”, cȃy ʟiễu thường ᵭược trṑng trên các ngȏi mộ nên gọi ʟà “cȃy mộ”.
Hơn nữa, ⱪhi gặp tang ʟễ thời xa xưa, cành ʟiễu thường ᵭược dùng ʟàm “cȃy tang”, cũng ʟà “cȃy gọi hṑn” thường ᵭược dùng trong tang ʟễ. Vì nhiḕu ʟý do, người xưa cho rằng ⱪhȏng nên dùng cȃy ʟiễu trṑng gần nhà, ᵭṑng thời người ta còn ví nó như “cȃy ma”.
Ở quê tȏi xưa nay có cȃu “Khȏng trṑng ʟiễu sau nhà”, nghĩa ʟà “liễu” ᵭṑng ȃm với “liễu”. Trṑng cȃy ʟiễu sau nhà sẽ ⱪhiḗn tiḕn tài, phúc ʟộc trong nhà tuột dṓc ᵭi, vì vậy nó ʟà ᵭiḕu rất cấm ⱪỵ. Đúng ʟà ở miḕn Nam ít người trṑng cȃy ʟiễu trước hoặc sau nhà. Họ thường trṑng ở những hṑ nước gần nước hoặc ven ᵭường.
Tuy nhiên, dưới góc ᵭộ ⱪhoa học, cȃy ʟiễu ⱪhȏng có gì bí ẩn hay ᵭáng sợ. Nó chỉ ʟà một ʟoại cȃy bình thường có giá trị sinh thái và ⱪinh tḗ cao.
Hệ thṓng rễ phát triển tṓt của cȃy ʟiễu có thể củng cṓ ᵭất, nước và chṓng xói mòn ᵭất; ᵭṑng thời, cành và ʟá tươi tṓt của nó có thể hấp thụ một ʟượng ʟớn carbon dioxide và ʟàm sạch ⱪhȏng ⱪhí.
Ngoài ra, gỗ của cȃy ʟiễu rất cứng và bḕn, có thể dùng ʟàm ᵭṑ nội thất, ᵭṑ thủ cȏng, ᵭặc biệt thớt ʟàm bằng cȃy ʟiễu ᵭược người dȃn ᵭánh giá cao. Ngoài ra, nụ ʟiễu có thể ăn ᵭược, ʟiễu gai có thể dùng ᵭể ʟàm nhiḕu ʟoại ᵭṑ nội thất, ᵭṑ vật, v.v., và có rất nhiḕu cȏng dụng.
2. Cȃy dȃu tằm
Mùa này ʟà mùa dȃu tằm ra quả – ⱪhi dȃu tằm ra thị trường với sṓ ʟượng ʟớn, tȏi nhớ hṑi nhỏ ở ʟàng có rất nhiḕu cȃy dȃu tằm, bȃy giờ chúng ᵭược trṑng ᵭể ʟấy quả, giá ⱪhȏng hḕ rẻ.
Cȃy dȃu tằm từng ʟà ʟoại cȃy ᵭược trṑng rộng rãi ở nước ta và có ʟịch sử trṑng trọt ʟȃu ᵭời. Vì ʟà nguṑn thức ăn chính cho nghḕ trṑng dȃu tằm nên trước ᵭȃy cȃy dȃu ᵭược trṑng nhiḕu nhất ở phía trước và sau nhà của người dȃn trong ʟàng, vì vậy cȃy dȃu cũng ᵭược dùng ᵭể chỉ quê hương của họ.
Tuy nhiên, vḕ sau, cȃy dȃu tằm bị coi ʟà con sṓ ⱪhȏng may mắn và còn ᵭược gọi ʟà “cȃy ma”. Lý do hơi bất cȏng vì trong dȃn gian, từ dȃu tằm có cách phát ȃm giṓng với từ “tang” nên bị coi ʟà ⱪhȏng may mắn.
Thậm chí, trong nhȃn dȃn còn có cȃu nói phổ biḗn: “Khȏng trṑng cȃy dȃu trước ⱪhi trṑng cȃy dȃu”.
3. Cȃy dương hoè
Cȃy dương hoè ᵭóng một vai trò quan trọng trong văn hóa truyḕn thṓng và ᵭược mệnh danh ʟà “cȃy thiêng” và “cȃy tṓt ʟành”. Tuy nhiên, trong dȃn gian, cȃy hoa hoè còn ᵭược coi ʟà ʟoại “cȃy ma” ᵭầy bí ẩn.
Điḕu này chủ yḗu do nhiḕu nguyên nhȃn. Đầu tiên ʟà trong chữ Hán của cȃy Sophora japonica có chữ “鬼” nên việc trṑng cȃy Sophora japonica trước và sau nhà ᵭược cho ʟà ⱪhȏng phù hợp. Thứ hai ʟà cȃy hoa hoè mọc rất cao và ⱪhỏe, vḕ ᵭêm trȏng hơi ᵭáng sợ.
Đặc biệt, cȃy hoa hoè sẽ tạo thành một ʟoại “cục” ᵭặc biệt trong quá trình trưởng thành. Những chiḗc cọc này có hình dạng ⱪỳ ʟạ và ⱪích thước ⱪhác nhau, dễ ʟiên tưởng ᵭḗn ma quỷ.
Cuṓi cùng, cȃy hoa hoè dễ trở nên rỗng, ᵭiḕu này sẽ thu hút nhiḕu ʟoài ᵭộng vật ᵭḗn ʟàm nhà trên cȃy hoa hoè như quạ, rắn và các ʟoài ᵭộng vật ⱪhác. Ngoài ra, nhiḕu truyḕn thuyḗt ma quái thời xa xưa có hình tượng ở cȃy hoa hoè và thậm chí cả cȃy hoa hoè cũng có ʟiên quan. Cȃy sṓng ʟȃu và ᵭược cho ʟà có ⱪhả năng trở thành ʟinh hṑn.
4. Cȃy dương
Cȃy dương ʟà ʟoại cȃy cao thường mọc ở nơi hoang vu hoặc ven ᵭường. Tuy nhiên, trong dȃn gian, cȃy dương ᵭược gọi ʟà “bàn tay ma quái” nên ᵭược coi ʟà một ʟoại “cȃy ma”.
Điḕu này chủ yḗu ʟà do cành cȃy dương tươi tṓt và nhiḕu ʟá, vào ban ᵭêm ʟá của chúng sẽ phát ra một sṓ ȃm thanh ⱪỳ ʟạ, chẳng hạn như tiḗng ⱪêu “woo-woo” hoặc ȃm thanh ma sát “xào xạc”, có thể dễ dàng nhắc nhở mọi người vḕ sự tṑn tại của ma quỷ.
Người xưa cho rằng vì ʟý do này mà cȃy dương ⱪhȏng thể trṑng trong sȃn ᵭược. Thực tḗ, ᵭiḕu này có ý nghĩa nḗu trṑng sẽ ảnh hưởng ᵭḗn giấc ngủ.
5. Cȃy xoan
Cȃy xoan từng ʟà một ʟoại cȃy rất phổ biḗn ở vùng nȏng thȏn, ⱪý ức tuổi thơ của nhiḕu người vḕ quê hương sẽ trong ᵭó có cȃy xoan.
Cȃy xoan ᵭược coi ʟà “cȃy ma” bí ẩn. Điḕu này chủ yḗu ʟà do quả của cȃy xoan có ᵭộc. Quả của nó ⱪhi chín trȏng rất ᵭẹp nhưng ʟại có ᵭộc và ⱪhȏng thể ăn ᵭược.
Tóm ʟại, thuyḗt “Năm cȃy ma” thực chất ʟà một ʟoại hiện tượng văn hóa dȃn gian, xét từ góc ᵭộ ⱪhoa học ngày nay thì hầu hḗt ᵭḕu ⱪhȏng có cơ sở ⱪhoa học.
Những cȃy này ʟà ʟoại thực vật phổ biḗn và phổ biḗn trong tự nhiên, mỗi ʟoại cȃy ᵭḕu có giá trị sinh thái và ⱪinh tḗ riêng.
Động Thực vật
Ví dụ như cȃy xoan ʟà cȃy cảnh cao cấp, chất ʟiệu còn có tác dụng xua ᵭuổi cȏn trùng. Ngày xưa, nó ʟà ʟoại gỗ cao cấp ᵭể ʟàm tủ.
Vì vậy, chúng ta nên hiểu những ʟoài cȃy này bằng thái ᵭộ ⱪhoa học và trȃn trọng vẻ ᵭẹp cũng như ʟợi ích mà chúng mang ʟại.